- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D và ĐB - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2023/HSST Ngày: 26/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vàng Thị Thu, Ông Lý Ngọc Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Lương Gia Khánh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1995, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Bản S, xã Vàng San, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 0/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Mảng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lò Văn S, sinh năm 1956 và con bà: Lò Thị N (đã chết); Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Lò Thị L, sinh năm 1997 (hiện không còn sống chung với nhau nữa) và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: 01 chưa được xóa án tích, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 tại nhà tạm giữ Công an, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Lò Văn N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1991, tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Bản N, xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 9/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lò Văn C, sinh năm 1965 và con bà: Phìn Thị Đ, sinh năm 1968; Bị cáo có vợ: Lù Thị Ch, sinh năm 1994 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2023 tại nhà tạm giữ Công an, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 07/6/2023, Lò Văn N, sinh năm 1991 điều khiển xe mô tô chở Lò Văn D, sinh năm 1995 cùng nhau đi đến khu vực bản Pa Thoóng, xã Bum Tở, huyện Mường Tè tìm mua ma tuý để cùng nhau sử dụng (Trước khi đi N đưa cho D số tiền 100.000 đồng để góp tiền mua ma tuý). Đến bản Pa Thoóng, N và D gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt. Qua trao đổi, N và D mua được của người phụ nữ này 08 gói Heroine đều được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 400.000 đồng (trong đó, 100.000 đồng của N và 300.000 đồng của D). Mua được Heroine, N điều khiển xe mô tô chở D cầm gói Heroine trên tay phải đi về. Trên đường về, D và N đi vào một bụi cây ven đường và cùng nhau sử dụng hết 01 gói Heroine. Sau khi sử dụng xong gói Heroine, D nhặt 01 mảnh nilon màu trắng và cho 07 gói Heroine vào trong rồi gói lại. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chở D ngồi sau cầm 07 gói Heroine trên tay phải đi về.
Vào hồi 13 giờ 10 phút cùng ngày, khi N và D về đến khu vực Km 279, quốc lộ 4H thuộc địa phận khu phố 9, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè thì gặp tổ công tác Công an huyện Mường Tè và Công an thị trấn Mường Tè đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện Lò Văn D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tại đây, Lò Văn N và Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Trước sự việc trên, tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 84/KLGĐ ngày 07/6/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu kết luận: “Tổng khối lượng chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn D và Lò Văn N là: 0,71 gam (không phẩy bẩy mươi mốt gam)”
Tại kết luận giám định số 699/GĐ-KTHS ngày 10/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “07 (bảy) Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu từ Mẫu 01 đến Mẫu 07) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin)....”
Tại bản cáo trạng số 111/CT- VKS-MT ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm 02 tháng tù.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy 07 mảnh màu hồng và 01 mảnh màu trắng. Tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe mô tô Wave RSX màu sơn đỏ- đen.
Bị cáo Lò Văn D nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, không tranh luận gì.
Bị cáo Lò Văn N nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị được xin lại 01 chiếc xe mô tô Wave RSX màu sơn đỏ- đen.
Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 13 giờ 10 phút, ngày 07/6/2023, tại khu vực Km 279, Quốc lộ 4H thuộc khu phố 9, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Lò Văn D và Lò Văn N đang tàng trữ trái phép 0,71 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Tè và Công an thị trấn Mường Tè phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Lò Văn N phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Đối với bị cáo Lò Văn D, tại bản án số 52/2020/HSST ngày 28/9/2020 xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản" và 01 năm 02 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành là 02 năm 02 tháng tù. Đến 02/01/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, tính đến thời điểm phạm tội lần này (ngày 07/6/2023) bị cáo chưa được xóa án tích. Nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lò Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn N: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội. Nên khi quyết định hình phạt cho các bị cáo, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức án cho các bị cáo là như nhau.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các bị cáo về hành vi phạm tội của mình Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo thì các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản đảm bảo thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với người phụ nữ lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã bán Heroine cho các bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên không thể xem xét xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Xử lý vật chứng:
Vật chứng còn lại: Gồm 01 mảnh màu trắng; 07 mảnh màu hồng. Không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy của Lò Văn N, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được xin lại vì đây là phương tiện duy nhất và là tài sản chung của gia đình bị cáo. Hội đồng xét xử không chấp nhận vì bị cáo đã dùng chiếc xe máy làm phương tiện để đi mua Heroine. Nên cần tịch thu bán hóa giá sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH 14. Bị cáo Lò Văn D thuộc hộ nghèo của UBND xã Vàng San, huyện Mường Tè và là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo Lò Văn N thuộc hộ nghèo của UBND xã Mường Tè, huyện Mường Tè. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D và Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14. Đối với Lò Văn D
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2023.
- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14. Đối với Lò Văn N.
Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng; 07 mảnh nilon màu hồng.
Tịch thu bán hóa giá, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe mô tô Wave RSX màu sơn đỏ- đen (xe đã qua sử dụng).
(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mường Tè và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 21/9/2023).
3. Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu (01); - VKS ND tỉnh Lai Châu (01); - VKSND huyện Mường Tè (01); - Công an huyện + THAHS (04); - THADS huyện (01); - Các bị cáo (02); - Lưu HSVA (01); - Lưu TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |