vanban.org

Bản án 148/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nghiêm Quang H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”

Xử phạt bị cáo Nghiêm Quang H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2023. Về trách nhiện dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điểu 3; các Điều 585; 586; 587 và 590 của Bộ luật dân sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nghiêm Quang H - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nghiêm Quang H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LĐ
Bản án số: 148/2023/HS-ST
Ngày: 26 - 7 - 2023

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Xuân Phong

+ Bà Nguyễn Bảo Phương Uyên

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL - tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2023/QĐXXST - HS ngày 07/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nghiêm Quang H, sinh năm: 1984, tại: HD; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1A/18/36 Phố Cô Đông, Khu 4, Phường Bình Hàn, Thành phố HD, Tỉnh HD; nơi cư trú: 2/1 Ph th, Phường G, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Kinh doA; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nghiêm Công H, sinh năm: 1957 và bà: Bùi Thị B, sinh năm: 1962; vợ: Vũ Thị M, sinh năm: 1986 (đã ly thân); có 04 con, lớn nhất sinh năm: 2013, nhỏ nhất sinh năm: 2023; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 31/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

- Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Lê Cao T, sinh năm: 1972, là Luật sư Văn phòng Luật sư Bá T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh LĐ.

- Người bị hại: Cháu Lê Ngọc Diễm Q, sinh năm: 2009. Địa chỉ: Số 05 M L, Phường I, Thành phố ĐL, Tỉnh LĐ.

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Phan Thị H A, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Số 05 M L, Phường I, Thành phố ĐL, tỉnh LĐ.

(Bị cáo, Luật sư, người bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nghiêm Quang H, sinh năm 1984, HKTT: 1A/18/36 Phố Cô, Đông Khu 4, Bình Hàn, TP HD, HD vào ĐL làm ăn sinh sống từ năm 2016. Ngày 28/01/2023, H lên mạng xã hội Facebook tìm bạn gái thì làm quen được với cháu Lê Ngọc Diễm Q, sinh ngày 10/10/2009, HKTT: 05 M L, Phường I, TP ĐL. Qua nhắn tin nói chuyện với nhau, H ngỏ ý muốn tìm người để yêu thương và sẽ chu cấp tiền hàng tháng thì cháu Q đồng ý. Đến khoảng 13 giờ ngày 29/01/2023, H và cháu Q hẹn gặp nhau, H điều khiển xe ô tô tải đến đầu đường Ng V S, Phường I, TP ĐL đón cháu Q. Khi lên xe, H nói chở cháu Q đến nhà của H để quan hệ tình dục thì cháu Q đồng ý. H điều khiển xe chở cháu Q đến phòng trọ của H thuê để làm kho chứa hàng tại địa chỉ: C5/1 Ng Tr Tr, Phường D, TP ĐL. Khi đến nơi, H đi lên phòng trước, còn cháu Q đi lên sau. Khi đi vào phòng, H chỉ mặc áo trên người còn không mặc quần đứng chờ cháu Q, thấy cháu Q lên, H tiến lại vị trí của cháu Q, H dùng tay ôm người cháu Q và sờ vào ngực của cháu Q rồi sờ vào bộ phần sinh dục của cháu Q, cháu Q không chống cự. Sau đó, H cởi quần dài và quần trong của cháu Q đang mặc rồi dùng tay sờ và đưa tay vào trong âm đạo của cháu Q. Lúc này, cháu Q nằm ngửa còn H nằm ở trên người cháu Q. Sau đó, H đưa dương vật đã cương cứng vào âm đạo của cháu Q. H dùng dương vật đưa ra đưa vào nhiều lần trong âm đạo cháu Q được khoảng 15 phút thì H xuất tinh vào trong âm đạo của cháu Q, rồi H rút dương vật ra âm đạo của cháu Q. Sau khi quan hệ tình dục xong, cháu Q và H mặc đồ đi xuống xe tải và đi đến một hiệu thuốc H mua một viên thuốc nói cháu Q uống nH cháu Q không uống, sau đó H chở cháu Q về nhà. Đến chiều ngày 30/01/2023, mẹ cháu Q là bà Phan Thị H A nghi ngờ nên hỏi cháu Q, cháu Q nói cho mẹ toàn bộ sự việc. Sau đó, bà H A đưa cháu Q đến Công an Phường D, Thành phố ĐL trình báo sự việc. Tại cơ quan Công an, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên

* Tang vật vụ án:

- 01 (một) quần lót màu xám xA của Lê Ngọc Diễm Q, sinh ngày: 10/10/2009, HKTT: 05 M L, Phường I, TP ĐL, LĐ. (Q mặc ngày 29/01/2023 khi thực hiện hành vi giao cấu với Nghiêm Quang H có dấu vết tinh tịch ở đủng quần).

- 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số IMEI: 355898190062453 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy) thu giữ của Nghiêm Quang H, đã được niêm phong trong bì màu trắng.

- 01 (một) Căn cước công dân tên Nghiêm Quang H, đã được niêm phong trong bì màu trắng.

- 03 (ba) triệu đồng tiền Việt Nam.

* Người bị hại: Cháu Lê Ngọc Diễm Q, sinh ngày: 10/10/2009, HKTT: 05 M L, Phường I, TP ĐL, tỉnh LĐ. Nghiêm Quang H đã tác động gia đình bồi thường cho cháu Q số tiền 30.000.000 đồng. Cháu Q và người đại diện theo pháp luật của cháu Q là chị Phan Thị H A đã làm đơn xin bãi nại và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nghiêm Quang H và không có yêu cầu gì thêm (BL 127,128)

* Kết luận giám định pháp y về tình dục số 02/2023-TD ngày 31/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh LĐ kết luận:

- Màng trinh: Rách củ vị trí 6 giờ và 11 giờ.

- Test thai: Âm tính.

- XN tìm tinh trùng: tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo.

- Xét nghiệm HIV: Âm tính (BL 111,112).

* Kết luận giám định ADN số 1864/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phân viện KHHS tại Tp.HCM kết luận:

- Trong mẫu dịch âm đạo ghi thu của Lê Ngọc Diễm Q có tinh dịch, tinh trùng người. Phân tích gen (ADN) từ mẫu tinh dịch, tinh trùng này được kiểu gen trùng với kiểu gen của Nghiêm Quang H (BL 119).

Tại bản cáo trạng số 155/CT-VKSĐL-LĐ ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo Nghiêm Quang H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nghiêm Quang H khai nhận, Ngày 29/01/2023, tại phòng trọ C5/1 Ng Tr Tr, Phường 4, Thành phố ĐL, mặc dù H biết cháu Lê Ngọc Diễm Q chưa đủ 16 tuổi nH vẫn thực hiện hành vi giao cấu với cháu Q như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nghiêm Quang H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nghiêm Quang H từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bị cáo bồi thường thêm cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01(một) quần lót màu xám xA. Tịch thu bán sung Ngân sách Nước 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen của Nghiêm Quang H và số tiền 3.000.000 đồng. Trả lại cho bị cáo 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nghiêm Quang H

Luật sư bào chữa cho bị cáo H trình bày: Cáo trạng số155/CT-VKSĐL-LĐ ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL đã áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo H. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; có địa chỉ rõ ràng; gia đình có thân nhân là liệt sĩ và bị cáo là lao động chính đang nuôi 04 con nhỏ. Căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nghiêm Quang H: Nghiêm Quang H là người đã có vợ, con. Ngày 28/01/2023, H lên mạng xã hội Facebook tìm bạn gái thì làm quen được với cháu Lê Ngọc Diễm Q. Vào khoảng 13 giờ ngày 29/01/2023, H và cháu Q hẹn gặp nhau, H điều khiển xe ô tô tải đến đầu đường Ng V S, Phường I, Thành phố ĐL đón cháu Q. Khi lên xe, H nói chở cháu Q đến nhà của H để quan hệ tình dục thì cháu Q đồng ý. H điều khiển xe chở cháu Q đến phòng trọ của H thuê để làm kho chứa hàng tại địa chỉ: C5/1 Ng Tr Tr, Phường D, Thành phố ĐL. Khi đến nơi, H đi lên phòng trước, còn cháu Q đi lên sau. Khi đi vào phòng, H chỉ mặc áo trên người không mặc quần đứng chờ cháu Q, thấy cháu Q lên, H tiến lại vị trí của cháu Q, H dùng tay ôm người cháu Q và sờ vào ngực của cháu Q rồi sờ vào bộ phần sinh dục của cháu Q, cháu Q không chống cự. Sau đó, H cởi quần dài và quần trong của cháu Q đang mặc rồi dùng tay sờ và đưa tay vào trong âm đạo của cháu Q. Lúc này, cháu Q nằm ngửa còn H nằm ở trên người cháu Q. Sau đó, H đưa dương vật đã cương cứng vào âm đạo của cháu Q. H dùng dương vật đưa ra đưa vào nhiều lần trong âm đạo cháu Q được khoảng 15 phút thì H xuất tinh vào trong âm đạo của cháu Q, rồi H rút dương vật ra khỏi âm đạo của cháu Q. Sau khi quan hệ tình dục xong, cháu Q và H mặc đồ đi xuống xe tải và đi đến một hiệu thuốc H mua một viên thuốc nói cháu Q uống nH cháu Q không uống, sau đó H chở cháu Q về nhà. Đến chiều ngày 30/01/2023, mẹ cháu Q là bà Phan Thị H A nghi ngờ nên hỏi cháu Q, cháu Q nói cho mẹ toàn bộ sự việc. Sau đó, bà H A đưa cháu Q đến Công an Phường D, TP ĐL trình báo sự việc. Tại cơ quan Công an, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại Kết luận giám định pháp y về tình dục số 02/2023-TD ngày 31/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh LĐ xác định:

- Màng trinh: Rách củ vị trí 6 giờ và 11 giờ.

- Test thai: Âm tính.

- XN tìm tinh trùng: Tìm thấy tinh trùng trong dịch âm đạo.

- Xét nghiệm HIV: Âm tính.

Tại Kết luận giám định ADN số 1864/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Trong mẫu dịch âm đạo ghi thu của Lê Ngọc Diễm Q có tinh dịch, tinh trùng người. Phân tích gen (ADN) từ mẫu tinh dịch, tinh trùng này được kiểu gen trùng với kiểu gen của Nghiêm Quang H.

Xét thấy, bị cáo Nghiêm Quang H là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo biết rõ hành vi giao cấu với người dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nH vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu sinh lý của bản thân. Hành vi của Nghiêm Quang H không chỉ xâm phạm vào sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của người chưa thành niên, xâm phạm vào dA dự, nhân phẩm của con người được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nghiêm Quang H phạm vào tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 155/CT-VKSĐL-LĐ ngày 29/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; gia đình bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình có người thân là liệt sĩ, nên áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Nghiêm Quang H bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Cháu Q và người đại diện theo pháp luật của cháu Q là chị Phan Thị H A đã làm đơn xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện thỏa thuận bồi thường thêm cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, người bị hại cũng đồng ý. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật và điều cấm của xã hội nên cần ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01(một) quần lót màu xám xA, xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen và số tiền 3.000.000 đồng của Nghiêm Quang H, là phương tiện, công cụ bị cáo liên lạc với bị hại để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu bán và tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nghiêm Quang H, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và Dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nghiêm Quang H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”

Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nghiêm Quang H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2023.

2. Về trách nhiện dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điểu 3; các Điều 585; 586; 587 và 590 của Bộ luật dân sự;

Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo Nghiêm Quang H có trách nhiệm bồi thường them cho cháu Lê Ngọc Diễm Q số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng:Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần lót màu xám xA;

3.2. Tịch thu bán thu Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen của bị cáo H (không kiểm tra chất lượng bên trong);

3.3. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng).

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 30/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nghiêm Quang H phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ