- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Quốc T - Đặng Thị L"
- Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m…
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 7 - 2023 V/v Xin ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Thanh Tú
Ông Nguyễn Tấn Lộc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh
Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 193/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp“Xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khóm 6, thị t, huyện P, tỉnh C ..
- Bị đơn: Chị Đặng Thị L, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh C ..
Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn là anh
Đoàn Ngọc Dẹn trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Đặng Thị L tự nguyện kết hôn và có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau năm 2007. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm. Mặc dù hai bên gia đình đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả, hiện tại anh và chị L đã sống ly thân. Xét thấy hôn nhân giữa anh và chị L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể duy trì nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
- Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị L có 03 con chung tên:
Nguyễn Phước Thịnh sinh ngày 05/11/2013, Nguyễn Phước Thiện sinh ngày 17/7/2016 và Nguyễn Phước Thuận sinh ngày 05/01/2019 đang sống cùng anh T. Sau khi ly hôn, anh có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc ba cháu, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Quốc T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không
trình bày bổ sung gì thêm.
* Bị đơn là chị Đặng Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng
nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Tranh chấp giữa anh Nguyễn Quốc T và chị Đặng Thị L là tranh chấp
hôn nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; chị Đặng Thị L có địa chỉ cư trú tại ấp Bình Thành, xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án chị Đặng Thị L đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc T và chị Đặng Thị L tự nguyện sống
chung từ năm 2012, anh T và chị L có đăng ký kết hôn kết tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị L đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo anh T trình bày, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm. Mặc dù hai bên gia đình đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có kết quả, anh T và chị L đã sống ly thân cho đến nay. Xét thấy hôn nhân giữa anh và chị L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể duy trì nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
Đối với chị L, quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia tố
tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của anh T. Như vậy, tình trạng hôn nhân của anh T và chị L đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được đúng như anh T xác định. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, cho anh T được ly hôn với chị Đặng Thị L.
Về con chung: Quá trình chung sống, anh T xác định anh và chị L có 03 con
chung tên: Nguyễn Phước Thịnh sinh ngày 05/11/2013, Nguyễn Phước Thiện sinh ngày 17/7/2016 và Nguyễn Phước Thuận sinh ngày 05/01/2019 đang sống cùng anh T. Sau khi ly hôn, anh T có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc ba cháu, anh T không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, theo quy định của pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền
ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…” và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình:“... con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại phiên tòa anh T xác định từ khi ly thân với chị L thì anh là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ba cháu và anh đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc ba cháu đến khi hai cháu đủ 18 tuổi. Mặt khác, cháu Nguyễn Phước Thịnh sinh ngày 05/11/2013 đã được hơn 09 tuổi, căn cứ biên bản ghi nhận ý kiến ngày 14/7/2023, cháu Phước Thịnh có nguyện vọng sống cùng cha sau khi anh T và chị L ly hôn; Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần tiếp tục giao ba cháu Nguyễn Phước Thịnh, Nguyễn Phước Thiện và Nguyễn Phước Thuận cho anh T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị L không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:
Về tài sản chung: Anh T xác định anh và chị L không có, không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung, nợ riêng: Anh T xác định anh và chị L không có, không yêu
cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Quốc T phải chịu
án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quốc T, cho
anh T được ly hôn với chị Đặng Thị L.
2. Về con chung: Giao ba cháu Nguyễn Phước Thịnh sinh ngày 05/11/2013,
Nguyễn Phước Thiện sinh ngày 17/7/2016 và Nguyễn Phước Thuận sinh ngày 05/01/2019 cho anh T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi ba cháu đủ 18 tuổi, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị L không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Quốc T phải nộp
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 29 tháng 3 năm 2023 anh T có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008981 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Anh T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thanh Tú
Nguyễn Tấn Lộc
Tăng Thị Nhớ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tăng Thị Nhớ |