vanban.org

Bản án 148/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 31/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS.

Buộc chị Trương Mỹ H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS tiền nợ gốc: 379.320.402 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023 gồm tiền lãi trong hạn: 40.312.884 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.766.621 đồng. Tổng cộng: 421.399.907 đồng (bốn trăm hai mươi mốt triệu ba t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. QUY NHƠN - T. BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2023/DS-ST
Ngày: 31/7/2023
V/v “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ron

2. Bà Trần Thị Phối

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn.

- Đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 480/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2023/QĐXXST-DS ngày 26/6/202321 và Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2023/QĐST-DS ngày 12/7/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS (JIVF)

Địa chỉ: Lầu 15 Tòa nhà Centec, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông TANIGUCHI NOBORU – TGĐ

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn Hùng, Sinh năm: 1993

Địa chỉ: 145 Ỷ Lan Nguyên Phi, p. Hoà Cường Bắc, Q. Hải Châu, Đà Nẵng

(Văn bản ủy quyền số 129/2023/UQ-LM-JIVF ngày 24/4/2023 của JIVF)

* Bị đơn: Chị Trương Mỹ H

Sinh năm: 1999

HKTT: Tổ 15, KV 2, phường N, Tp.Q, tỉnh B

Chỗ ở hiện nay: Tổ 10, KV 7, p. B, Tp. Tp.Q, tỉnh B

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Ngọc Đ, SN: 1959

HKTT: Tổ 15, KV 2, phường N, Tp.Q, tỉnh B

Chỗ ở hiện nay: Tổ 10, KV 7, p. B, Tp. Tp.Q, tỉnh B

(Tại phiên tòa hôm nay, anh Hùng có mặt, chị H và ông Đ vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2022, Đơn sửa đổi bổ sung ngày 17/11/2022 và các lời khai tiếp theo, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn Hùng trình bày:

Ngày 30/9/2020, chị Trương Mỹ H có ký Hợp đồng tín dụng số 846080000734921000 ngày 30/9/2020 với JIVF và Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 01 vay 500.000.000 đồng để mua 01 xe ô tô, biển kiểm soát 77C-206.65, thời hạn vay 72 tháng, lãi suất vay 0,8872%/tháng, ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu tính từ ngày 02/11/2020. Đồng thời để đảm bảo khoản vay, chị H đã thế chấp chiếc xe ô tô nói trên cho JIVF theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 846080000734921000 – HĐTC ngày 30/9/2020 giữa JIVF với chị Trương Mỹ H.

Từ ngày 02/11/2020 đến ngày 31/8/2022 chị H đã thanh toán cho JIVF 36 lần với tổng số tiền 207.488.481 đồng (trong đó gồm 120.679.598 đồng tiền gốc, 86.706.650 đồng tiền lãi trong hạn, 102.233 đồng lãi quá hạn). Từ sau ngày 31/8/2022 đến nay, mặc dù JIVF đã nhiều lần gọi điện thoại và đến nhà thuyết phục yêu cầu thanh toán nhưng chị Trương Mỹ H không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Do đó, chị Trương Mỹ H đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, đã vi phạm hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã thỏa thuận.

Vì vậy, JIVF khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị Trương Mỹ H thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ là 421.399.907 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 379.320.402 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023 gồm tiền lãi trong hạn: 40.312.884 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.766.621 đồng). JIVF yêu cầu chị H tiếp tục thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh, lãi quá hạn, các loại phí từ sau ngày 31/7/2023 cho đến khi hết nợ.

Trường hợp chị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì JIVF đề nghị Tòa tuyên người khởi kiện là JIVF được có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành phát mại tài sản là chiếc xe Ô tô bán tải Nissan Navara (Chi tiết: BKS: 77C-206.65. Số khung: MNTCC2D23Z0083653. Số máy: YD25923844T) theo Hợp đồng thế chấp để trả nợ.

Nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc người quản lý tài sản thế chấp phải giao xe cho cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản để thu hồi nợ.

Ngoài ra, JIVF không yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn, chị Trương Mỹ H vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên toà, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trương Ngọc Đ vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ trình bày:

Hiện nay tôi đang quản lý và sử dụng xe ô tô, biển kiểm soát 77C-206.65 là tài sản thế chấp. Tôi sẽ thay con gái (cô Trương Mỹ H) trả hết khoản tiền vay cho JIVF nhưng xin được trả dần 100.000.000đ/tháng vào ngày 28 hàng tháng cho đến khi hết nợ. Nếu tôi và con gái tôi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tôi sẽ tự nguyện giao xe ô tô nói trên cho Công ty tài chính để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành triệu tập của Tòa, không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày yêu cầu Tòa án buộc chị Trương Mỹ H có nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 846080000734921000 ngày 30/9/2020 với JIVF và Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 01 mà chị đã ký với JIVF, chị H vay tiền để mua xe ô tô là mục đích tiêu dùng. Vì vậy, HĐXX xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2017 và khoản 3 Điều 26 BLTTDS. Chị Hoa có nơi cư trú tại thành phố Quy Nhơn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 846080000734921000 ngày 30/9/2020 với JIVF và Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 01 ngày 30/9/2020 được thiết lập giữa chị Trương Mỹ H với JIVF thì về nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên giao dịch dân sự này hợp pháp.

Đối với Hợp đồng tín dụng số 846080000734921000 ngày 30/9/2020 với JIVF và Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 01 ngày 30/9/2020, JIVF đã cho chị H vay 500.000.000 đồng để mua xe ô tô, thời hạn vay 72 tháng, lãi suất vay 0,8872%/tháng, ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu tính từ ngày 02/11/2020. Từ ngày 02/11/2020 đến ngày 31/8/2022 chị H đã thanh toán cho JIVF 36 lần với tổng số tiền 207.488.481 đồng (trong đó gồm 120.679.598 đồng tiền gốc, 86.706.650 đồng tiền lãi trong hạn, 102.233 đồng lãi quá hạn). Từ sau ngày 31/8/2022 đến nay, mặc dù JIVF đã nhiều lần gọi điện thoại và đến nhà yêu cầu thanh toán nhưng chị H không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng nhiều lần triệu tập và đến nơi cư trú để làm việc nhưng chị H không chấp hành, không đến Tòa khai báo và làm việc. Căn cứ vào Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 228/UBND-XNTTHN ngày 29/8/2020 của UBND phường N, thành phố Q thì vào thời điểm giao kết hợp đồng tín dụng, chị H chưa kết hôn với ai, vì vậy, đây là nghĩa vụ dân sự của riêng chị H.

Chị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc chị H có nghĩa vụ thanh toán cho JIVF 421.399.907 đồng (trong đó tiền nợ gốc: 379.320.402 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023 gồm tiền lãi trong hạn: 40.312.884 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.766.621 đồng). Ngoài ra, chị H còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo quy định tính từ ngày 31/7/2023 cho đến khi trả hết nợ.

Về tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay, chị H đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 846080000734921000 – HĐTC ngày 30/9/2020 với JIVF, tài sản thế chấp là 01 (một) chiếc xe ô tô bán tải Nissan Navara (BKS: 77C-206.65; Số khung: MNTCC2D23Z0083653, số máy: YD25923844T) theo giấy đăng ký xe ô tô số 042156 do Phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Bình Định cấp ngày 28/9/2020 cho chị Trương Mỹ H. Hợp đồng thế chấp xe ô tô nêu trên đã được ký kết và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Do đó, trong trường hợp chị H không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì JIVF có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.

Xe ô tô bán tải Nissan Navara BKS: 77C-206.65 hiện đang do ông Trương Ngọc Đ quản lý, sử dụng, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Đ trình bày sẽ cùng con gái là chị Trương Mỹ H trả nợ, trong trường hợp không trả được nợ thì tự nguyện giao xe để JIVF xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Xét thấy xe ô tô nói trên là tài sản thế chấp của chị H nên ông Đ phải có nghĩa vụ giao lại xe cho JIVF trong trường hợp JIVF yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng, chị H phải chịu. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí này nên chị H phải có nghĩa vụ hoàn lại số tiền trên cho Nguyên đơn.

Về án phí: Căn cứ điểm khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu 20.856.000 đồng án phí DSST. JIVF không phải chịu án phí nên được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.177.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng Điều 295, các Điều từ 299 đến 308, Điều 323 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS.

Buộc chị Trương Mỹ H phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS tiền nợ gốc: 379.320.402 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 31/7/2023 gồm tiền lãi trong hạn: 40.312.884 đồng, tiền lãi quá hạn: 1.766.621 đồng. Tổng cộng: 421.399.907 đồng (bốn trăm hai mươi mốt triệu ba trăm chín mươi chín nghìn chín trăm lẻ bảy đồng).

Ngoài ra, chị H còn phải chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 846080000734921000 ngày 30/9/2020 với JIVF và Phụ lục Hợp đồng tín dụng số 01 ngày 30/9/2020 đã ký với Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS tính từ ngày 31/7/2023 cho đến khi trả hết nợ gốc.

2. Về tài sản bảo đảm: Nếu chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS có quyền yêu cầu xử lý tài sản đã được chị H thế chấp để thu hồi nợ là 01 (một) chiếc xe ô tô bán tải Nissan Navara (BKS: 77C-206.65; Số khung: MNTCC2D23Z0083653, số máy: YD25923844T) theo giấy đăng ký xe ô tô số 042156 do Phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Bình Định cấp ngày 28/9/2020 cho chị Trương Mỹ H. (theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 846080000734921000 – HĐTC ngày 30/9/2020 giữa chị H với JIVF).

3. Trong trường hợp Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì ông Trương Ngọc Đ phải có nghĩa vụ giao cho Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS 01 (một) chiếc xe ô tô bán tải Nissan Navara, BKS: 77C-206.65; Số khung: MNTCC2D23Z0083653, số máy: YD25923844T (theo giấy đăng ký xe ô tô số 042156 do Phòng cảnh sát giao thông – Công an tỉnh Bình Định cấp ngày 28/9/2020 cho chị Trương Mỹ H).

4. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), chị H phải chịu. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí này nên chị H phải có nghĩa vụ hoàn lại số tiền trên cho Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS.

5. Án phí Dân sự sơ thẩm: chị Trương Mỹ H phải chịu 20.856.000 đồng (Hai mươi triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

Hoàn lại cho Công ty Tài chính TNHH MTV Quốc tế Việt Nam JACCS số tiền 10.177.000 đồng (mười triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003004 ngày 05/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/7/2023); Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ