vanban.org

Bản án 148/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Trần Duy T(Út Tiêu) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Xử phạt Nguyễn Thành L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xử phạt Võ Minh K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Trần Duy T(Út Tiêu) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NT
TỈNH KH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2022/HS-ST
Ngày: 17/5/2022
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Thanh Tùng

Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh KH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh KH tham gia phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Ngọc - kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh KH xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 317/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Trần Duy T sinh ngày 24 tháng 10 năm 2000 tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Số 33 Phương Sài, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Duy Tín (sinh năm 1970) và bà Nguyễn Thị Hương (sinh năm 1975); tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Nguyễn Thành L sinh ngày 29 tháng 6 năm 2003 tại thành phố Nha Trang, tỉnh KH; nơi cư trú: Số 63 Phan Đình Giót, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn Liêm (sinh năm 1972) và bà Mai Thị Hồng Trinh (sinh năm 1973); tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Võ Minh K sinh ngày 11 tháng 5 năm 2004 tại thành phố Nha Trang, tỉnh KH; nơi cư trú: Số 125/26 Hà Thanh, phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Võ Văn Phong (sinh năm 1978) và bà Phạm Thị Thu Hồng (sinh năm 1982); tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 105/QĐ-XPHC ngày 11/5/2021 của Công an thành phố Nha Trang đã xử phạt Võ Minh K bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Lê Văn H sinh ngày 22/10/2005; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Tam Bung, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: Số 187 Lương Định Của, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; vắng mặt.

2. Anh Trần TT (Tỉnh) sinh ngày 05/5/2003; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6 Vĩnh Điềm, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; chỗ ở hiện nay: Số 187 Lương Định Của, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; vắng mặt.

3. Anh Lê Nguyễn Ngọc Á sinh ngày 09/9/2005; nơi cư trú: Số 24/11 Lương Định Của, tổ 2 Vĩnh Điềm, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn H: Bà Mai Thị Ngọc P, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp Tam Bung, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Nguyễn Ngọc Á: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1962 (là cha của bị hại) và bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1964 (là mẹ của bị hại); cùng nơi cư trú: Số 24/11 Lương Định Của, tổ 2 Vĩnh Điềm, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; vắng mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại Lê Văn H và Lê Nguyễn Ngọc Á: Bà Phạm Trân Nhật T, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh KH; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Bùi T (Quẹo) sinh ngày 05/10/2004; nơi cư trú: Số 146/11 Phương Sài, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; có mặt.

2. Anh Nguyễn Bảo Ng sinh ngày 16/8/2004; nơi cư trú: Số 01 Trần Quốc Toản, phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; có mặt.

3. Anh Thân Đức K sinh ngày 03/01/2005; nơi cư trú: Số 23 Tô Vĩnh Diện, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; có mặt.

4. Anh Phạm Thành Công sinh ngày 11/7/2004; nơi cư trú: Hẻm 33 Hương lộ Ngọc Hiệp, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; vắng mặt.

5. Bà Mai Thị Hồng Trinh sinh năm 1973; nơi cư trú: Số 63 Phan Đình Giót, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; có mặt.

6. Ông Phạm Văn Vinh sinh năm 1962; nơi cư trú: Số 18/21 Hà thanh, phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi ThÁ Nguyên: Ông Bùi Văn Trung, sinh năm 1975 (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án) và bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1977; cùng nơi cư trú: Số 146/11 Phương Sài, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; ông Trung vắng mặt; bà Hòa có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Bảo Nghi: Ông Nguyễn Hữu Đạt, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Hải Quế Hân, sinh năm 1973 (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án); cùng nơi cư trú: Số 01 Trần Quốc Toản, phường Vạn Thắng, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; bà Hân vắng mặt; ông Đạt có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thân Đức Kng: Ông Thân Đức Công, sinh năm 1967 và bà Lê Thị Hoa, sinh năm 1970; cùng nơi cư trú: Số 23 Tô Vĩnh Diện, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; bà Hoa vắng mặt, ông Công có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thành Công: Ông Phạm Dũng, sinh năm 1972 và bà Mai Thị Bích Oanh, sinh năm 1981; cùng nơi cư trú: Số 23 Tô Vĩnh Diện, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; ông Dũng, bà Oanh đều vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Thân Đức Phát (Phát Thân) sinh ngày 07/7/2002; nơi cư trú: Số 23 Tô Vĩnh Diện, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang, tỉnh KH; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 02/6/2020, Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L, Võ Minh K, Bùi ThÁ Nguyên, Phạm Thành Công, Nguyễn Bảo Nghi đang chơi tại Nhà Văn hóa thiếu nhi tỉnh KH, thì Thân Đức Kng đến báo cho Tbiết việc Thân Đức Phát (em họ của Kng) bị nhóm thanh niên (chưa rõ lai lịch) đánh gây thương tích. Sau đó, Tbáo lại và rủ L, K, Nguyên, Công, Nghi đi đánh nhau với nhóm thanh niên đã đánh Phát, cả nhóm đồng ý. Khi cả nhóm đến đường Phan Đình Giót thì thấy Phát nằm bất tỉnh nên Kng đưa Phát tới bệnh viện cấp cứu, số còn lại hẹn gặp tại khu vực Cầu Hộ để chuẩn bị đi đánh nhau. Kng nói cho Tbiết nhóm thanh niên đánh Phát đang ở tiệm rửa xe, nhà số 187 đường Lương Định Của, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang.

Lúc này, L điều khiển xe máy (chưa rõ biển kiểm soát) chở Tcầm 01 dao “rựa”, Công điều khiển xe máy, biển kiểm soát 79N2-346.89 chở Nguyên cầm 01 cây gỗ, Nghi điều khiển xe máy, biển kiểm soát 79N9-6581 chở K cầm dao “rựa” và 01 cục đá. Tbảo tất cả đến tiệm rửa xe, tại nhà số 187 đường Lương Đình Của để đánh nhau. Khi đến nơi, Tcầm 01 dao “rựa”, Nguyên cầm mũ bảo hiểm, Công cầm 01 cục đá xông vào thì thấy Lê Văn H (sinh ngày: 22/10/2005), Lê Nguyễn Ngọc Á (sinh ngày: 09/9/2005), Trần TT (sinh ngày: 05/5/2003) đang ở trong nhà. Thỏi nhóm H có tham gia đánh Phát không thì nhóm H trả lời không biết. Lúc này, Tdùng “rựa” kề vào cổ và dùng tay túm áo kéo H lôi ra bên ngoài, Công dùng tay túm áo kéo Á đi ra thì Á giằng người lại bám vào cánh cửa nhưng không được, Nguyên dùng tay túm áo kéo T ra bên ngoài. Sau đó, Công điều khiển xe máy chở Nguyên để T ngồi giữa, L điều khiển xe máy chở Tđể H ngồi giữa, Nghi điều khiển xe máy chở K để Á ngồi giữa. Tbảo chở H, T, Á đến khu vực bãi đất trống gần chùa Phổ Tế Ni Tự, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang. Tại đây, nhóm Tyêu cầu H, T, Á xuống xe để tra hỏi về việc có tham gia đánh Phát hay không thì nhóm H nói không đánh. Tdùng tay đánh vào vùng cổ H, còn Nguyên cầm mũ bảo hiểm đánh vào vùng mặt H gây chảy máu, K dùng cây gỗ đánh vào tay H, còn Công dùng tay đánh vào cổ H. Khoảng 05 phút sau, Kng đến thì thấy cả nhóm đang đánh H nên dùng chân đánh T. Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, thấy H bị chảy nhiều máu nên Tbảo Nghi điều khiển xe máy chở H, T, Á về lại tiệm rửa xe trên, rồi nhóm Tbỏ lại hung khí, tất cả cùng ra về.

Ngày 06/6/2020, anh Lê Văn H đến cơ quan Công an phường trình báo vụ việc và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 248/TgT-TTPY ngày 10/8/2020 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế KH kết luận thương tích của Lê Văn H: gãy xương chính mũi, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08% (tám phần trăm).

Qua đấu tranh, cơ quan điều tra đã đưa Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L, Võ Minh K, Phạm Thành Công, Nguyễn Bảo Nghi, Thân Đức Kng, Bùi ThÁ Nguyên về làm việc. Qua làm việc, cả nhóm đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình.

Tại bản cáo trạng số 266/CT-VKSNT ngày 19 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh KH đã truy tố các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự.

Đối với việc gây thương tích cho Lê Văn H với tỷ lệ 08% (tám phần trăm), ngày 03/11/2020, H có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố nên chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Tuấn, L, K về hành vi Cố gây thương tích.

Đối với Phạm Thành Công, Nguyễn Bảo Nghi, Bùi ThÁ Nguyên, Thân Đức Kng, khi thực hiện hành vi bắt, giữ H, T, Á chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do đó chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công, Nghi, Nguyên, Kng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh KH giữ nguyên nội dung cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K; căn cứ khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thành L và Võ Minh K; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Duy Ttừ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Thành L và Võ Minh K mỗi bị cáo từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, các bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị hại Lê Văn H và Lê Nguyễn Ngọc Á, bà Phạm Trân Nhật Thảo trình bày: Tại phiên tòa hôm nay, các bị hại Lê Văn H và Lê Nguyễn Ngọc Á vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu. Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2021/QĐXXST-HS ngày 07/10/2021 xác định người đại diện hợp pháp của bị cáo Võ Minh K là ông Võ Văn Phong và bà Phạm Thị Thu Hồng, người bào chữa cho bị cáo Võ Minh K là Luật sư Nguyễn Hữu Trường; tuy nhiên, đến thời điểm xét xử (ngày 17/5/2022), bị cáo Võ Minh K đã trên 18 tuổi, do đó không có sự tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Võ Minh K.

Cũng tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử nêu trên, đã xác định người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi ThÁ Nguyên là ông Bùi Văn Trung và bà Trần Thị Hòa; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Bảo Nghi là ông Nguyễn Hữu Đạt và bà Nguyễn Hải Quế Hân; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thân Đức Kng là ông Thân Đức Công và bà Lê Thị Hoa; tại phiên tòa, chỉ có mặt bà Trần Thị Hòa, ông Nguyễn Hữu Đạt và ông Thân Đức Công; xét thấy sự có mặt của những người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nêu trên cũng đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi ThÁ Nguyên, Nguyễn Bảo Nghi và Thân Đức Kng.

Tại phiên tòa, các bị hại là các anh Lê Văn H, Trần TT và Lê Nguyễn Ngọc Á; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn H là bà Mai Thị Ngọc P; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Nguyễn Ngọc Á là ông Lê Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc L; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Phạm Thành Công và ông Phạm Văn Vinh; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thành Công là ông Phạm Dũng và bà Mai Thị Bích Oanh đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; xét thấy sự vắng mặt của các bị hại, những người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung

Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K đã Ki nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà các bị cáo đã thực hiện như nội dung cáo trạng nêu trên. Lời Ki nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản nhận dạng, thương tích của bị hại Lê Văn H; phù hợp với lời Ki của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng tại phiên tòa; phù hợp với lời Ki của các bị hại, những người đại diện hợp pháp của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có trong hồ sơ vụ án; cũng như phù hợp với các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ 30 phút đến 21 giờ 50 phút ngày 02/6/2020, Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L, Võ Minh K, Bùi ThÁ Nguyên, Nguyễn Bảo Nghi, Phạm Thành Công đã có hành vi đến nơi ở của Lê Văn H, Trần TT, Lê Nguyễn Ngọc Á, tại tiệm rửa xe số 187 đường Lương Định Của, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang; dùng “rựa” kề vào cổ, đe dọa và dùng tay túm áo lôi kéo H, Á, T ra bên ngoài đưa lên xe chở đến khu vực gần chùa Phổ Tế Ni Tự, phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang; trong khoảng thời gian trên, Tuấn, L, K, Nguyên, Nghi, Công đã có hành vi dùng cây gỗ, mũ bảo hiểm, tay chân đánh H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 08% (tám phần trăm); do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh KH truy tố các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K về tội: “Bắt, giữ người trÁ pháp luật” quy định tại điểm đ, e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cá nhân của công dân cũng như gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý một mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo trong vụ án thì thấy rằng:

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; trong đó, bị cáo Trần Duy Tlà người khởi xướng, rủ rê các bị cáo Nguyễn Thành L và Võ Minh K; đồng thời trực tiếp cầm hung khí (là dao rựa), tham gia bắt, giữ, đánh và áp giải bị hại; các bị cáo Nguyễn Thành L và Võ Minh K tham gia với vai trò là các đồng phạm tích cực; bị cáo Nguyễn Thành L là người điều khiển xe máy chở bị cáo Trần Duy Tđi kiếm tìm bị hại và chở bị hại trong quá trình bắt, giữ; bị cáo Võ Minh K cầm hung khí (là dao rựa, cây gỗ) tham gia đánh, áp giải bị hại. Hành vi phạm tội của các bị cáo đối với các bị hại là những người không hề có mâu thuẫn gì đối với các bị cáo đã thể hiện tính chất côn đồ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, bản thân bị cáo Võ Minh K còn có nhân thân xấu.

Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K đã thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tích cực tự nguyện bồi thường cho các bị hại nhằm khắc phục một phần hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra; nên cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Nguyễn Ngọc Á có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thành L, nên cho bị cáo Nguyễn Thành L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là các anh Bùi ThÁ Nguyên, Nguyễn Bảo Nghi, Thân Đức Kng và bà Mai Thị Hồng Trinh; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi ThÁ Nguyên là bà Trần Thị Hòa; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Bảo Nghi là ông Nguyễn Hữu Đạt; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Thân Đức Kng là ông Thân Đức Công không có yêu cầu về vấn đề trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các bị hại là các anh Lê Văn H, Trần TT và Lê Nguyễn Ngọc Á; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn H là bà Mai Thị Ngọc P; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Nguyễn Ngọc Á là ông Lê Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc L; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Phạm Thành Công và ông Phạm Văn Vinh; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thành Công là ông Phạm Dũng và bà Mai Thị Bích Oanh vắng mặt tại phiên tòa, không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét, nên tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Duy Tuấn,

Xử phạt Trần Duy T(Út Tiêu) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành L,

Xử phạt Nguyễn Thành L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Căn cứ điểm đ, e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Minh K,

Xử phạt Võ Minh K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trÁ pháp luật”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi các bị hại là các anh Lê Văn H, Trần TT và Lê Nguyễn Ngọc Á; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Văn H là bà Mai Thị Ngọc P; người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Nguyễn Ngọc Á là ông Lê Ngọc T và bà Nguyễn Thị Ngọc L; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Phạm Thành Công và ông Phạm Văn Vinh; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thành Công là ông Phạm Dũng và bà Mai Thị Bích Oanh có đơn yêu cầu.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố Tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Trần Duy Tuấn, Nguyễn Thành L và Võ Minh K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ