vanban.org

Bản án 148/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 23/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ…

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu A 24 (Hai mươi) tháng tï. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2022/HS-ST
Ngày 23/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Mười

2. Ông: Nguyễn Quang Hợp

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Hảo - Kiểm sát viên

Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 134/2022/TLHS-ST ngày 02/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2022/QĐXXST-HS ngày 09/12/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu A, sinh ngày: 26/6/1983.

Tên gọi khác: Nguyễn Văn O; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm Q, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12.

Bố: Nguyễn Hữu L, sinh năm 1953; Mẹ: Phạm Thị H, sinh năm 1958.

Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2017.

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

+ Tại Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc và lao động phục hồi, chống tái nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện số 5341, ngày 14/10/2008 của UBND huyện Đại Từ đối Nguyễn Hữu A (Nguyễn Văn O) thời gian 12 tháng.

+ Tại Bản án số 69/2011/HSST ngày 27/10/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Nguyễn Hữu A (Nguyễn Văn O) 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 05/5/2012)

+ Tại Bản án số 33/2013/HSST ngày 24/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Nguyễn Hữu A (Nguyễn Văn O) 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 01/4/2015)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đại Từ. (Có mặt).

*. Người chứng kiến:

Anh: Đinh Kiều H, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TDP B, TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:

Hồi 16 giờ ngày 29/6/2022, Công an thị trấn H, huyện Đ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ dân phố B, thị trấn H, huyện Đ thì thấy 01 nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính thì người nam giới khai họ tên là Nguyễn Hữu A và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng đang cầm ở tay trái (Hữu A khai là ma túy loại Heroine của Hữu A mua về sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hữu A, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng (Niêm phong vào phong bì ký hiệu A. Xác định vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an thị trấn H đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo quy định.

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 30/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Hữu A. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Hồi 23 giờ 50 phút ngày 29/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Hữu A trong phong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng: 0,194 gam, lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định; vỏ giấy gói và vỏ phong bì niêm phong vào phong bì ký hiệu A2.

Tại kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 07/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,194 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu A khai nhận như sau: Bản thân Hữu A là người nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ ngày 29/6/2022, Hữu A đi xe ôm (người này Hữu A không quen biết) đi từ nhà đến khu vực khu di tích 27/7, thị trấn H, huyện Đ với mục đích mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, Hữu A gặp và mua của 01 người phụ nữ (Hữu A không quen biết) 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 250.000 đồng. Khoảng 16 giờ, sau khi mua được Heroine, Hữu A cầm ở tay trái rồi đi bộ về nhà. Khi đi được khoảng 200 mét thì bị Tổ công tác Công an thị trấn Đại Từ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Hữu A như nêu trên phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ; kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án gồm:

+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định);

+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì A).

Hiện nay được bảo quản tại kho vật chứng của chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý

Tại bản cáo trạng số 141/ CT-VKSĐT ngày 02/11/2022 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu A mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì A).

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

. Về căn cứ buộc tội:

Tại phiên tòa bị cáo A đã khai báo: Khoảng 16 giờ ngày 29/6/2022 tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Hữu A đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,194 gam (không phẩy một chín tư gam) chất ma túy (loại Heroine), mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an thị trấn H, huyện Đ phát hiện, bắt người quả tang, thu giữ vật chứng.

Lời khai nhận của Nguyễn Hữu A phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định....

Như vậy hành vi tàng trữ 0,194 gam Heroine của Nguyễn Hữu A đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Nội dung điều luật như sau:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm vào mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…..

c) Heroine….. có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.

. Xét tính chất hành vi:

Xét về tính chất hành vi của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng và suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Hữu L được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là nghiện ma tuý có nhân thân rất xấu đã bị: UBND huyện Đ ra Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cai nghiện bắt buộc và lao động phục hồi, chống tái nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện thời gian 12 tháng và Tại Bản án số 69/2011/HSST ngày 27/10/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Nguyễn Hữu A (Nguyễn Văn O) 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong ngày 05/5/2012). Tại Bản án số 33/2013/HSST ngày 24/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Nguyễn Hữu A (Nguyễn Văn O) 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 01/4/2015). Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn lao vào con đường phạm tội trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nên cần xử lý nghiêm.

. Về hình phạt:

Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo A mức án từ 24 đến 30 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễn phạt bổ sung cho bị cáo

. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì A).

. Trong vụ án, Nguyễn Hữu A khai đi nhờ người lái xe ôm đến khu di tích 27/7, thị trấn H để mua ma túy và mua ma túy của 01 người phụ nữ không quen biết tại khu di tích 27/7 thị trấn H, huyện Đ. Do không xác định được lai lịch của người lái xe ôm và người phụ nữ trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ không có căn cứ xem xét xử lý đối với người lái xe ôm và người phụ nữ.

. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ nêu trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 Điều 136 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu A 24 (Hai mươi) tháng tï. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2022.

2. Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu A 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu A2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì A).

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 120/QĐ-VKSĐT ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu A phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ