- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đ.T.T- N.H.N"
- Tòa quyết gì? GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 148 /2021/QĐ – PT | Hà Nội, ngày 09 tháng 4 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
QUYÊT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với Hội đồng xét kháng cáo Quyết định đình chỉ vụ án gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Thái
Các Thẩm phán:
Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến
Bà Hoàng Thị Thu Lan
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp:
Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Hà – Thư ký
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
NHẬN THẤY:
Ngày 07/6/2017 Tòa án nhân dân huyện Đ.Athụ lý sơ thẩm vụ án “Tranh chấp Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp” giữa:
Nguyên đơn: Bà Đ.T.T, sinh năm 1966; ông P.V.B, sinh năm1964; Anh
P.Đ.T, sinh năm 1992; Anh P.T.T, sinh năm 1994.
Địa chỉ: thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội.
Người nhận uỷ quyền của hộ gia đình bà Đ.T.T: Công ty luật TNHH một
thành viên H.D.
Trụ sở: Phòng 16A, tầng 16, tháp A, toà nhà B.I.G tơwer. Số 18 P.H, quận
N.T.L, tp Hà Nội.
Bị đơn: Ông N.H.N(tức N.H.L), sinh năm 1967.
Địa chỉ: thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần giống gia cầm
V.C.
Địa chỉ: Đ.D, thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội.
Ngày 31/10/2019 Tòa án nhân dân huyện Đ.A ban hành Quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 53/2019/QĐST- DS .
Ngày 15/11/2019 bà ĐỗThị Thoa có đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ
vụ án số: 53/2019/QĐST- DS của Tòa án nhân dân huyện Đ.Avới yêu cầu:
- Huỷ quyết định đình chỉ vụ án số: 53/2019/QĐST-DS ngày
31/10/2019 của Toà án nhân dân huyện Đ.A;
- Đề nghị chuyển lại hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân huyện Đ.Agiải
quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
* Tại phiên họp phúc thẩm Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố
Hà Nội phát biểu ý kiến:
+ Về việc chấp hành pháp luật của các Thẩm phán, thư ký: Đã chấp hành
đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về thời hạn mở phiên họp Toà án cần rút kinh nghiệm về việc để quá
thời hạn mở phiên họp.
+ Về nội dung kháng cáo của bà Đ.T.T: Thửa đất các đương sự tranh chấp là thửa đất số 6(5) tờ bản đồ số 236-5, diện tích 325m2 thuộc sứ Đ.D , thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội nay là thửa số 178a(5), tờ bản đố số 235-8, diện tích 325m2 thuộc sứ Đ.D, thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội đã được UBND huyện Đ.Acấp cho hộ gia đình bà Đ.T.T ngày 30/11/1997. Năm 2004 bà Đ.T.T đã cho ông N.H.N mượn ruộng, ông Nam đã làm trang trại, nay Bà Thoa có nhu cầu đòi lại.
Quá trình giải quyết tại Toà án huyện Đ.A, phía ông Nam thừa nhận năm
2004 ông đã thuê thửa đất của bà Đ.T.T để làm trang trại, nay bà Thoa đòi lại, ông chấp nhận mọi phương án của nguyên đơn đưa ra, gia đình bà Thoa lấy ruộng thì ông trả ruộng ở chỗ khác trong khu trang trại. Nếu bà Thoa lấy bằng tiền ông trả 250.000.000đồng/sào bắc bộ. Tuy nhiên, Toà án nhân dân huyện Đ.Ađã ra quyết định đình chỉ vụ án số: 53/2019/QĐST-DS ngày 31/11/2019 với lý do: “ Nguyên đơn trong vụ án là hộ gia đình bà Đ.T.T khởi kiện đòi quyền sử dụng đất, sản sất nông nghiệp thửa số 178a(5) tờ bản đố số 235-8, diện tích 325m2 thuộc sứ Đ.D, thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội đối với bị đơn là ông N.H.N theo bản cam kết thoả thuận ruộng canh tác ngày 08/10/2004 nhưng không chứng minh được hình thể, kích thước các cạnh, vị trí toạ độ của thửa đất, để Toà án có cơ sở giải quyết buộc ông N.H.N và công ty cổ phần giống gia cầm V.C trả cho hộ gia đình bà Đ.T.T. Đơn của hộ gia đình bà Đ.T.T thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hộ gia đình bà Đ.T.T khởi kiện yêu cầu buộc ông N.H.N phải trả lại đất
ruộng cho hộ gia đình bà Đ.T.T trên cơ sở Giấy CNQSDĐ đã được UBND huyện Đ.Acấp năm 1997. Cho đến thời điểm khởi kiện. Hộ gia đình bà Đ.T.T chưa bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi phần diện tích đất này. Việc nguyên đơn đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thể hiện số đo kích thước và vị trí cụ thể của thửa đất là do lỗi của cơ quan nhà nước, không phải lỗi của nguyên đơn. Trong khi đó bị đơn không cung cung cấp được tài liệu nào chứng minh QSD đất trên. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào văn bản trả lời của UBND huyện Đ.Avà công văn của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ.Ađể ra quyết định đình chỉ vụ án là không chính xác. Bởi lẽ, việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn cần phải căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chứ không thể vì lý do nguyên đơn chưa chứng minh được hình thể, kích thước các cạnh, vị trí toạ độ thửa đất để trả lại đơn khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ vụ án.
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm ra Quyết định đình giải quyết vụ án dân sự
thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 của BLTTDS là không đúng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 BLTTDS: Chấp nhận kháng cáo của bà Đ.T.T. Huỷ Quyết định đình chỉ số: 53/2019/QĐST-DS ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ.A.
Đề nghị hội đồng căn cứ điểm c khoản 5 Điều 314 Bộ Luật tố tụng dân
sự. Hủy Quyết định đình chỉ số: 53/2019/QĐST-DS ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ.A; Chuyển hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân huyện Đ.Agiả quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
xÐt thÊy:
- Về thời hạn kháng cáo: Bà Đ.T.T kháng cáo Quyết định đình chỉ số:
53/2019/QĐST-DS ngày 31/10/2019 của Toà án nhân dân huyện Đ.Anằm trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận.
- Về xác định quan hệ pháp luật: Phía nguyên đơn giao cho phía bị
đơn thửa ruộng có diện tích 325m2 thuộc thửa số 6(5), tờ bản đồ số 326-5 tại thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội thông qua: “Bản cam kết thoả thuận ruộng canh tác” ngày 08/10/2004. Thửa ruộng này Hộ gia đình nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1997. Sau khi nhận thửa ruộng của bên nguyên đơn, phía bị đơn đã san lấp thửa ruộng cùng với các thửa ruộng khác để làm tranh trại nuôi gà.
Đến năm 2016 phía nguyên đơn có yêu cầu đòi lại thửa ruộng đối với Bị
đơn. Phía Bị đơn đồng ý trả lại. Nhưng khi thụ lý vụ án và khi ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là:“Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đến khi ra Quyết định đình chỉ vụ án, cấp sơ thẩm lại xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là:“Tranh chấp Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp”. Như vậy, cấp sơ thẩm đã xác định không chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp. Thửa ruộng canh tác Hộ gia đình nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận, là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình nguyên đơn. Nên phải xác định phía nguyên đơn đòi lại quyền sử dụng đất mới hợp lý.
- Về căn cứ đình chỉ: Cấp sơ thẩm nêu lý do đình chỉ vụ án là do phía
nguyên đơn “Không xác định được hình thể, kích thước các cạnh, vị trí, toạ độ của thửa đất, để Toà án có cơ sở giải quyết buộc ông N.H.N và Công ty cổ phần gia cầm V.C trả cho hộ gia đình bà Đ.T.T”.
Xét thấy: Nguyên đơn đòi lại thửa ruộng đã được UBND huyện Đ.Acấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là căn cứ hợp pháp để nguyên đơn đòi lại tài sản hợp pháp của mình. Việc xác định hình thể, vị trí, toạ độ thửa đất là biện pháp tác nghiệp của cơ quan tố tụng để thu thập chứng cứ, tài liệu phục vụ cho công tác giải quyết vụ án, không phải là căn cứ đình chỉ vụ án thuộc trường hợp chưa đủ điều kiện khởi kiện được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại các buổi hoà giải, phía bị đơn cũng có ý kiến: Do hiện nay thửa
ruộng của Nguyên đơn phía bị đơn đã san lấp để làm trang trại nuôi gà, không xác định được vị trí cụ thể thửa ruộng của Nguyên đơn nữa, nên bị đơn đồng ý trả lại ruộng cho nguyên đơn bằng một thửa ruộng khác tương đương vị trí thửa ruộng của nguyên đơn; Nếu bên nguyên đơn không nhận thì xin được trả bằng tiền theo nhà nước đền bù là 250.000.000 đồng/sào. Như vậy, Bị đơn cũng đã thừa nhận có sử dụng thửa ruộng của nguyên đơn.
Do đó, việc cấp sơ thẩm căn cứ vào lý do không xác định được hình thể,
kích thước các cạnh, vị trí, toạ độ của thửa đất, để ra quyết định đình chỉ vụ án là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Vì vậy, cần Huỷ quyết định đình chỉ vụ án, để cấp sơ thẩm tiếp tục giải
quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
QuyÕt ®Þnh:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà ĐỗThị Thoa:
Huỷ Quyết định đình chỉ số: 53/2019/QĐST-DS ngày 31/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ.A, thành phố Hà Nội về việc Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số: 48/DSST ngày 07/6/2017 giữa:
Nguyên đơn: Bà Đ.T.T, sinh năm 1966; ông P.V.B, sinh năm1964; Anh
P.Đ.T, sinh năm 1992; Anh P.T.T, sinh năm 1994.
Địa chỉ: thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội.
Người nhận uỷ quyền của hộ gia đình bà Đ.T.T: Công ty luật TNHH một
thành viên H.D.
Trụ sở: Phòng 16A, tầng 16, tháp A, toà nhà B.I.G tơwer. Số 18 P.H, quận
N.T.L, tp Hà Nội.
Bị đơn: Ông N.H.N(tức N.H.L), sinh năm 1967.
Địa chỉ: thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần giống gia cầm
V.C.
Địa chỉ: Đ.D, thôn C.P, xã L.H, huyện Đ.A, tp Hà Nội.
Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Đ.Atiếp tục giải quyết vụ án
theo đúng quy định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà ĐỗThị Thoa không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Được hoàn trả lại số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai số AA/2018/ 0015057 ngày 22/11/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.A.
3. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hà Nội; - TAND huyện Đ.A; - Chị cục THADS huyện Đ.A; - Các Đ/sự. - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG PHÚC THÂM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN HỌP Nguyễn Quốc Thái |