- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Hữu Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Hữu Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 148/2021/HS-ST Ngày 16/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quàng Văn Khoa.
2. Ông Lèo Văn Hưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Đoàn Hữu Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15 tháng 10 năm 1997; tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; nơi ĐKNKTT: Tổ v, phường Quyết T, thành phố Sơn L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Đoàn Quang H, sinh năm 1957 và bà Lê Thị S, sinh năm 1961; Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 6 năm 2021 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 20 phút ngày 03/6/2021, tổ công tác Công an phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 9, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La phát hiện bắt quả tang Đoàn Hữu Q đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 túi nilon màu xanh, bên trong túi nilon màu xanh thứ nhất có chứa 186 viên nén màu hồng, bên trong túi nilon màu xanh thứ hai có chứa 166 viên nén màu hồng (Q tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp khai nhận là hồng phiến).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Hữu Q khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 03/6/2021, Đoàn Hữu Q đón xe taxi đến khu vực đường 4G thuộc tổ 5, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La tìm mua ma túy về sử dụng. Đoàn Hữu Q đã gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 02 túi Hồng phiến với giá 8.000.000 đồng. Quang cất 02 túi ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải đang mặc rồi đón xe taxi đến khu vực kè suối Nậm La thuộc tổ 9, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngày 05/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định vật chứng, kết quả: 186 viên nén màu hồng trong túi nilon màu xanh thứ nhất có khối lượng 17,87gam, lấy 10 viên có khối lượng 0,99 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu A1, còn lại 16,88 gam lưu kho ký hiệu B1; 166 viên nén màu hồng trong túi nilon màu xanh thứ hai có khối lượng 16,30 gam; lấy 10 viên có khối lượng 0,99 gam làm mẫu trưng cầu giám định ký hiệu A2, còn lại 15,31 gam lưu kho ký hiệu B2. Tổng khối lượng 352 viên nén trong 2 túi nilon màu xanh là 34,17 gam.
Kết luận giám định số 1073 ngày 07/6/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 và A2 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của các mẫu gửi giám định là A1 = 0,99 gam, A1 = 0,99 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 34,17 gam; loại Methamphetamine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Về nguồn gốc số ma túy trong vụ án, bị cáo Đoàn Hữu Q khai mua của một người nam giới không quen biết vào ngày 03/6/2021 tại khu vực đường 4G thuộc tổ 5, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an thành phố Sơn La không có căn cứ để tiếp tục điều tra xác minh.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 547/CT-VKSTP ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Đoàn Hữu Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Hữu Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Đoàn Hữu Q từ 10 năm đến 10 năm 6 tháng tù.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 16,88 gam Methamphetamine ký hiệu B1 và 15,31 gam Methamphetamine ký hiệu B2; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu xanh.
Trả lại cho bị cáo: 01 căn cước công dân số 014097000629 mang tên Đoàn Hữu Q.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Hữu Q nhận tội và không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi bị cáo Đoàn Hữu Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố Sơn La đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 03/6/2021, Đoàn Hữu Q đã có hành vi cất giấu trái phép 34,17 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực tổ 9, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 34,17 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đoàn Hữu Q đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân dân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy: Bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
Vật chứng vụ án:
Đối với 16,88 gam Methamphetamine ký hiệu B1 và 15,31 gam Methamphetamine ký hiệu B2 còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 02 mảnh nilon màu xanh là vật bị cáo dùng để cất giấu ma túy, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ, theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Đối với 01 căn cước công dân số 014097000629 mang tên Đoàn Hữu Q do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 28/3/2021 là giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả cho bị cáo, theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Hữu Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đoàn Hữu Q 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 03/6/2021).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 16,88 gam Methamphetamine ký hiệu B1 và 15,31 gam Methamphetamine ký hiệu B2; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 02 mảnh nilon màu xanh đã được niêm phong trong 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Trả lại cho bị cáo: 01 căn cước công dân số 014097000629 mang tên Đoàn Hữu Q do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an cấp ngày 28/3/2021.
(Số lượng, khối lượng, đặc điểm, tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Đoàn Hữu Q phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đoàn Hữu Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/9/2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (2); - THADS thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; - Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; - THAPT (2); - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Thị Phượng |