vanban.org

Bản án 148/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 15/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo DƯƠNG QUANG M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo DƯƠNG QUANG M 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 8 năm 2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quang M, sinh năm 1978; Trú tại xóm T, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự ra
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2021/HS-ST
Ngày 15- 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Bà Thân Thị Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2021/TLST- HS, ngày 28 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:149/2021/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: DƯƠNG QUANG M, sinh năm 1978

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Quang T (đã chết) và bà Dương Thị M, sinh năm 1935; Gia đình có 08 anh chị, em, bị cáo là con thứ bẩy trong gia đình; Có vợ là Dương Thị M1, sinh năm 1979; Con có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không;

Nhân thân: - Ngày 17/10/2001, Ủy ban nhân dân Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 20.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 21/12/2001, Ủy ban nhân dân Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 50.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 10/4/2002, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà - Cục C10 Bộ Công an, thời hạn 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 05/4/2004.

- Ngày 13/10/2017, Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do nghiện ma túy trong thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 14/9/2018.

Bị cáo DƯƠNG QUANG M bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2021 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến:

1. Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1983

Nơi thường trú: Xóm N, Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt).

2. Ông Dương Nghĩa Tr, sinh năm 1964

Nơi thường trú: Xóm N, Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 12 giờ ngày 17/8/2021, tổ công tác của Công an Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực Xóm N, Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông trên khai nhận tên là DƯƠNG QUANG M, sinh năm 1978, trú tại: Xóm T, Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, đồng thời M tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra 01 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (M khai nhận đó là ma tuý - loại Heroine của M) mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (gói ma túy ký hiệu A) theo quy định và bàn giao M cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P để điều tra làm rõ.

Hồi 18 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã phối hợp cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng được gói bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Mcó khối lượng 0,201 gam (Không phẩy hai trăm linh một gam). Lấy toàn bộ niêm phong vào bì thư (ký hiệu A1) gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1283/KL-KTHS ngày 25/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái nguyên, kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư (ký hiệu A1) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,201 gam.

Tại cơ quan điều tra, DƯƠNG QUANG M khai nhận như sau: Mlà người nghiện chất ma tuý nên thường phải đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng gần 12 giờ ngày 17/8/2021, M đi bộ một mình từ nhà đến khu vực gần cổng Công ty may TNG huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Mgặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, hỏi và mua được 01 gói ma túy (loại heroine) của người này với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về tìm nơi sử dụng, khi M đang đi bộ về đến khu vực Xóm N, Xã X, thì bị tổ công tác của Công an Xã X, huyện P phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo M là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A1) chứa ma túy loại Heroine được hoàn lại sau giám định hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện P chờ xử lý.

Bản cáo trạng số: 158/CT-VKS-PB, ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo DƯƠNG QUANG M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diên Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo DƯƠNG QUANG M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo DƯƠNG QUANG M từ 03 đến 04 năm tù.

Không phạt bổ sung đối vớ i bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín ký hiệu A1 ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,180 gam ma túy được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ DƯƠNG QUANG M.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện P trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, biên bản bắt quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ 25 phút ngày 17/8/2021, tại khu vực Xóm N, Xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, DƯƠNG QUANG M là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy - loại Heroine có khối lượng 0,201 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân, nhưng Mchưa kịp sử dụng thì bị Công an Xã X, huyện P phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo DƯƠNG QUANG M đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Nội dung Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)…

c) Heroine… có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam.”

2….”

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quyền lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố của bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân rất xấu, bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý, bị cáo nhận thức được đầy đủ tác hại của ma tuý nhưng không từ bỏ được ma tuý mà lại lao vào con đường phạm tội.

Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc có một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.

. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy việc bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính, do đó, không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín ký hiệu A1 ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,180 gam ma túy được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ DƯƠNG QUANG M.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).

. Về nguồn gốc số ma túy (Heroine) Mkhai mua của 01 người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực gần cổng Công ty may TNG huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông như Mđã khai là ai nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

. Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bị cáo phải chịu một khoản án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

. Thông báo về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, pháp luật áp dụng:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

- Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo DƯƠNG QUANG M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo DƯƠNG QUANG M 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 8 năm 2021.

3. Ra Quyết định tạm giam bị cáo DƯƠNG QUANG M với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín ký hiệu A1 ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,180 gam ma túy được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 vụ DƯƠNG QUANG M.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo DƯƠNG QUANG M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nước.

6. Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt Bị cáo (DƯƠNG QUANG M), báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ