- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Be E, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bé E phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 148/2020/HS-ST Ngày 08- 5- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoàn;
Bà Trần Thị Ngọc;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2020/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Bé E (tên gọi khác Tuấn E), sinh năm 1980 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: Ấp 7, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1958 và bà Ngô Thị N, sinh năm 1958; có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất sinh năm 1983; có vợ Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 11/12/2019, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Nguyễn Văn P; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Bé E sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018, có tên khoa học là chất Methamphetamine.
Khoảng 15 giờ ngày 11/12/2019, Bé E ở phòng trọ địa chỉ số ...., khu phố N, phường B, thành phố Dĩ An, có tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng với người thanh niên khác đến hỏi mua gà của Bé E rủ về tỉnh Kiên Giang để mua. Lúc này, P lấy ma túy đá trong túi vải màu tím được để trong túi đeo chéo trước ngực bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn tại phòng của Bé E và rủ Bé E cùng sử dụng. Trong lúc sử dụng ma túy, Bé E hỏi mua của P 1.500.000 đồng ma túy đá, P lấy trong túi vải màu tím 01 gói ma túy đá đưa cho Bé E và cho nợ tiền. Lúc sau, P nghe điện thoại và cùng thanh niên đi đâu không rõ, khi đi P bỏ lại 01 túi vải màu đen, bên trong có 01 cái bóp da màu đen và 01 hộp giấy màu tím. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, P điện thoại, sim số 0979.600.554 của Bé E, nói Bé E đi bộ ra ngoài đường ĐT 743 và cầm theo túi vải của P để P chở đi đón xe về Kiên Giang. Bé E cất gói ma túy vừa mua vào bóp da màu đen trong túi vải của Prồi lấy balo màu đen bỏ quần áo, túi vải của P vào trong balo rồi đeo balo đến gặp P. Đến khoảng 16 giờ 25 phút ngày 11/12/2019, khi đi đến trước nhà số ..., khu phố N, phường B, Bé E bị lực lượng tuần tra Công an phường B, phối hợp Đội cảnh sát ma túy Công an thành phố D, thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong ba lô màu đen của Bé E có 01 túi vải màu đen, bên trong túi vải có: 01 bóp da màu đen chứa 01 gói nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá và 02 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy màu tím chứa 01 gói nylon miệng kéo dính chứa 02 viên nén MDMA, 01 gói nylon miệng kéo dính chứa Ketamine, 02 gói nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá và tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Khám xét khẩn cấp phòng trọ của Bé E tại số ..., khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, phát hiện 03 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 cái nỏ thủy tinh.
Bé E khai nhận gói nylon miệng kéo dính tinh thể màu trắng trong bóp da là của Bé E mua của tên P (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.500.000 đồng, còn ma túy trong hộp giấy màu tím hồng là của P.
Theo Kết luận giám định số 897/MT-PC09 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương:
- Mẫu tinh thể màu trắng có trong 03 gói nylon miệng kéo dính (M1-1, M2) gửi giám định là ma túy, khối lượng 5,7961 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu chất màu trắng có trong 01 gói nylon miệng kéo dính (M1-2) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1283 gam, loại Ketamine.
- Mẫu 02 viên nén và chất bột màu xanh có trong 01 gói nylon miệng kéo dính (M1-3) gửi giám định là ma túy, khối lượng 1,4084 gam, loại MDMA.
Đối với tên P đưa ma túy cho Bé Em sử dụng hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Tại cáo trạng số 165/CT–VKS ngày 26 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn Bé E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bé E mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: Khoảng 16 giờ ngày 11/12/2019, trước nhà số ..., khu phố N, phường B, lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện trong ba lô màu đen của Nguyễn Văn Bé E có 01 túi vải màu đen, bên trong túi vải có: 01 bóp da màu đen chứa 01 gói nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá và 02 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy màu tím chứa 01 gói nylon miệng kéo dính chứa 02 viên nén MDMA, 01 gói nylon miệng kéo dính chứa Ketamine, 02 gói nylon miệng kéo dính chứa ma túy đá và tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số 897/MT-PC09 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương:
- Mẫu tinh thể màu trắng có trong 03 gói nylon miệng kéo dính (M1-1, M2) gửi giám định là ma túy, khối lượng 5,7961 gam, loại Methamphetamine.
- Mẫu chất màu trắng có trong 01 gói nylon miệng kéo dính (M1-2) gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,1283 gam, loại Ketamine.
- Mẫu 02 viên nén và chất bột màu xanh có trong 01 gói nylon miệng kéo dính (M1-3) gửi giám định là ma túy, khối lượng 1,4084 gam, loại MDMA.
Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 165/CT–VKS ngày 26 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có bà ngoại Nguyễn Thị C là mẹ Việt Nam anh hùng, ông nội Nguyễn Văn T là thương binh 02/4; Hội đồng xét xử cũng xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- Bì thư niêm phong bên trong chứa 5,1817 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,1159 gam loại Ketamine và 0,7115 gam loại MDMA;
- Điện thoại di động Vivo, sim số 0979.600.554;
- 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 02 cái bình, 02 cái ống hút và 02 cái nỏ) và 03 nỏ thủy tinh;
- 01 hộp giấy màu tím, 01 bóp da màu đen, 01 túi vải màu đen;
- 01 cân tiểu ly.
Mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với tên P đưa ma túy cho Bé E chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên đang tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Bé E phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Bé E 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy:
- Bì thư đã niêm phong bên trong chứa 5,1817 gam ma túy Methamphetamine, 0,1159 gam Ketamine và 0,7115 gam MDMA;
- Điện thoại di động Vivo, sim số 0979.600.554;
- 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 02 cái bình, 02 cái ống hút và 02 cái nỏ) và 03 nỏ thủy tinh;
- 01 hộp giấy màu tím, 01 bóp da màu đen, 01 túi vải màu đen;
- 01 cân tiểu ly.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2020, bút lục 80).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Văn Bé E phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND tp D (01); - Công an tp D (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS tp D (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh BD (01); - UBND x Bị cáo TT (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Quân |