vanban.org

Bản án 148/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 31/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Đ - Mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2019/HS-ST
Ngày 31 tháng 7 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Diệp Anh

2. Ông Phan Trung Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Hữu Đ - Sinh năm 1998; Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh L; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu K; Con bà Nguyễn Thị H1; Có vợ (chưa đăng ký kết hôn) là Nguyễn Ngọc Uyên T1 và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/3/2019; Tạm giam ngày 03/4/2019 (Số giam: 2037T1/7), hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số của 1 Công an Thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 24/3/2019, Tổ công tác Y1/141 – Công an Thành phố Hà Nội trong khi làm nhiệm vụ tại ngã tư phố Hàng Bài - phố Trần Hưng Đạo, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội phát hiện Bùi Nguyễn Quang H2, sinh năm 2000; ĐKHKTT tại: Số 39/3 N, phường 4, thành phố Đ, tỉnh L điều khiển xe máy Honda Airblade màu đỏ đen (không có Biển kiểm soát) chở phía sau Trần Hữu Đ thấy có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện bên trong túi áo khoác bên trái của Đ có 01 túi nilông (kích thước 8x13cm) bên trong có 11 túi nilông (kích thước 2x2cm) chứa tinh thể màu trắng. Ngay tại chỗ, Đ khai nhận đó là ma tuý Ketamine mang theo để bán kiếm lời. Tiến hành kiểm tra H2, Tổ công tác không phát hiện thu giữ gì liên quan đến ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ niêm phong tang vật và đưa các đối tượng trên về trụ sở Công an phường Hàng Bài để giải quyết.

Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của của Đ: 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, sim số 0888.480.507; 01 điện thoại Samsung Galaxy J3 Pro màu xanh, sim số 0387.909.098. Thu giữ của H2: 01 điện thoại Iphone 5 màu đen, sim số 0344.212.758; 01 xe máy Honda Airblade màu đỏ đen, không BKS, số khung: RLHJF6302FZ636537, số máy: JF63E-1166398.

Tại bản Kết luận giám định số 1929/KLGĐ-PC09 ngày 01/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 11 túi nilông (thu giữ của Trần Hữu Đ), đều là ma tuý loại Ketamine, tổng khối lượng: 4,295 gam (Bút lục 42).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Hữu Đ khai nhận: Trước khi bị bắt khoảng 04 đến 05 ngày, Đcó mua của một người đàn ông không quen biết tại tỉnh Lâm Đồng 12 túi ma tuý Ketamine với giá 5.000.000 đồng, mục đích bán lại để kiếm lời. Sau khi mua được ma tuý, đến ngày 20/3/2019, Đ đi xe khách từ Lâm Đồng ra Hà Nội và mang theo số ma tuý trên. Khi đến Hà Nội ngày 21/3/2019, Đ có liên lạc với bạn là Bùi Nguyễn Quang H2 và nói cho H2 biết có ma tuý Ketamine để bán, nếu có khách mua ma tuý thì giới thiệu để Đ bán kiếm lời, H2 đồng ý. Tuy nhiên Đ chưa nói gì về việc chia tiền lời nếu như H2 giới thiệu khách mua, cũng như không nói cho H2 biết mình có bao nhiêu ma tuý. Đến tối ngày 23/3/2019, Đ gặp H2 và cùng nhau đến quán Bar Club One ở phố Lò Đúc, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội để nghe nhạc. Tại đây, Đ có lấy ra 01 túi ma tuý Ketamine để sử dụng với H2, còn lại 11 túi ma tuý Ketamine Đ vẫn cất giấu trong người. Sau đó, Đ chở H2 về nhà ngủ. Đến tối ngày 24/3/2019, Đ tiếp tục điều khiển xe máy Honda Airblade màu đỏ đen, không có biển kiểm soát đến đón H2 đi chơi. Khi đi H2 là người điều khiển xe máy chở Đ, khi cả hai đi đến khu vực ngã tư phố Hàng Bài – phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì bị Tổ công tác Y/141 – Công an Thành phố Hà Nội kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên. Việc Đ có mang ma túy theo người để bán kiếm lời vào ngày 24/3/2019 không nói cho H2 biết. Đ cũng chưa lần nào bán được ma tuý qua sự giới thiệu của H2. Đ dự định bán 01 túi ma tuý Ketamine với giá 1.000.000 đồng. Về số tài sản thu giữ của Đ gồm: 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, sim số 0888.480.507; 01 điện thoại Samsung Galaxy J3 Pro màu xanh, sim số 0387.909.098 là tài sản của Đ. Chiếc xe máy Honda Airblade màu đỏ đen, không BKS, số khung: RLHJF6302FZ636537, số máy: JF63E-1166398 do Đ mượn của Bác tên là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1965; Trú tại: Đ, huyện Q, thành phố H để làm phương tiện đi chơi.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chiếc xe máy Honda Airblade màu đỏ đen, không BKS, số khung: RLHJF6302FZ636537, số máy: JF63E-1166398 chưa được đăng ký theo quy định của pháp luật. Người đứng tên mua chiếc xe máy trên là chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1993; Trú tại: Xóm 6, Đ, Đ, huyện Q, thành phố H. Chị T3 khai mua chiếc xe máy trên tại Chi nhánh Công ty TNHH Thương mại Minh Thương ở quận Hà Đông, Hà Nội vào tháng 3/2017, do bận việc gia đình chị T3 chưa làm thủ tục đăng ký xe. Ngày 24/3/2019, chị T3 để xe máy ở nhà chồng thì bà T4 (mẹ chồng) cho cháu là Trần Hữu Đ mượn để đi chơi. Xét không liên quan đến vụ án, ngày 20/5/2019 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị T3 chiếc xe máy trên.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Nguyễn Quang H2 khai báo phù hợp với lời khai của Đ như nêu trên. H2 được Đ nhờ có ai mua ma tuý thì giới thiệu cho Đ bán kiếm lời, nhưng H2 không biết Đ cất giấu ma tuý ở đâu, số lượng bao nhiêu và chưa giới thiệu được ai mua ma tuý của Đ. Tối ngày 24/3/2019, H2 không biết Đ mang theo trong người 11 túi ma tuý Ketamine để bán. Tài liệu điều tra xác định H2 không liên quan đến hành vi Đ bán ma tuý, nên Cơ quan điều tra không xử lý và trao trả cho H2 chiếc điện thoại Iphone 5 màu đen, kèm sim số 0344.212.758.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ, quá trình điều tra Đ khai không biết rõ lai lịch, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số 136/CT-VKS ngày 03/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Trần Hữu Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù; Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung; Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy; Tịch thu sung ngân sách 01 điện thoại Iphone 7 màu đen kèm sim; 01 điện thoại Samsung Galaxy J3 Pro màu xanh kèm sim thu giữ của bị cáo Trần Hữu Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Hữu Đ đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 24/3/2019, Trần Hữu Đ đang tàng trữ 11 túi nilông đựng chất ma tuý loại Ketamine, có tổng khối lượng: 4,295 gam mục đích để bán trái phép, thì bị bắt quả tang thu giữ cùng tang vật tại ngã tư phố Hàng Bài - phố Trần Hưng Đạo, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự công cộng. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội… gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới HIV/AIDS. Là một thanh niên có trình độ văn hóa, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ, mua bán các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì hám lợi mà phạm tội, do đó cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị truy tố theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, ngoài ra không có tình tiết tăng nặng nào theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét bị cáo là người nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định nên Tòa không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét cho bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp: Xét thấy, đối với số ma túy thu giữ là chất nhà nước cấm mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 7 màu đen kèm sim; 01 điện thoại Samsung Galaxy J3 Pro màu xanh kèm sim thu giữ của bị cáo cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

V× c¸c lÏ trªn!

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trần Hữu Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2019.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

*Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong, trên các mép dán có chữ ký xác nhận của đương sự Trần Hữu Đ và giám định viên Nguyễn Văn Hà, người chứng kiến Bùi Nguyễn Quang H2, cán bộ Công an phường Nguyễn Anh Đức (đựng 11 túi nilông chứa 4,295 gam ma túy loại Ketamine đã láy mẫu 0,234 gam để giám định, số lượng ma túy, số lượng ma túy còn lại 4,061 gam Ketamine) + 02 sim điện thoại đã cũ.

Theo Kết luận giám định số 1929/KLGĐ-PC09 ngày 01/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố hà Nội và các biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng).

*Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 7 màu đen cũ đã qua sử dụng, vỏ và màn hình có vết nứt vỡ;

- 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy J3 Pro màu xanh cũ đã qua sử dụng, vỏ và màn hình có vết nứt vỡ.

(Các máy và sim điện thoại đều đã cũ, tại thời điểm bàn giao tang vật máy không mở được do đó chất lượng, hiện trạng không rõ).

Số tài sản vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/7/2019.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ