vanban.org

Bản án 148/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 13/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TAND Tối cao; TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2019/HS-PT
Ngày 13/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huờn

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Bằng

2. Ông Y Phi Kbuôr

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Huy - Kiểm sát viên

Mở phiên tòa ngày 13/5/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 123/2019/TLPT-HS ngày 04/4/2019 đối với bị cáo Nguyễn Trọng T, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo bị kháng nghị:

NGUYỄN TRỌNG T, sinh năm 1972 tại tỉnh Vĩnh Phúc

Nơi cư trú: Thôn Z, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông: Nguyễn Bá L1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị X, sinh năm 1948; Có vợ: Nguyễn Thị TH1, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2004.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29/4/2018, tạm giam ngày 08/5/2018, được thay đổi bằng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh ngày 26/7/2018, hiện đang tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Hoàng Trọng L, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Z, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

+ Anh Vũ Trung TH, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn Z, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

+ Anh Vũ Đình N, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

+ Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Z, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

+ Anh Đàm Tuấn C, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

+ Anh Lục Văn M, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Z, xã H, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau sau:

Tối ngày 28/4/2018, Nguyễn Trọng T, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M đến nhà Vũ Trung TH, tại thôn Z, xã H, huyện B uống rượu. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, năm người rủ nhau đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa đặt cược chẵn hoặc lẻ được, thu bằng tiền; Mỗi ván xóc đĩa, mỗi người đặt cược từ 20.000đ trở lên. T sử dụng 04 con vị, được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ, bỏ vào chiếc đĩa và dùng chiếc chén úp lên để xóc, cho mọi người đặt cược. Trong lúc, năm người đang đánh bạc với nhau, thì Hoàng Trọng L và Hoàng Văn H1 đến nhà TH chơi; thấy mọi người đánh bạc, nên L và H1 cùng tham gia đánh bạc. Đến khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 29/4/2018, trong lúc T đang cầm cái xóc đĩa đánh bạc, thì bị cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 770.000đ và thu giữ trên người Nguyễn Trọng T 9.000.000đ; T thừa nhận mang theo 9.000.000đ để đánh bạc.

Tổng số tiền T, N, C, M, TH, L và H1 đánh bạc với nhau là 9.770.000đ.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HSST ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã áp dụng: Khoản 1 Điều 321; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Trọng T 07 tháng tù về tội Đánh bạc.

Kiến nghị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm, để khởi tố Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1 về tội Đánh bạc.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-P7 ngày 22/3/2019, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm nêu trên với lý do: Hàng vi đánh bạc của Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1, đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc nhưng Cơ quan điều tra Công an huyện Buôn Đôn không khởi tố những người này về tội Đánh bạc, là trái với quy định của pháp luật, bỏ lọt tội phạm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trọng T khai nhận: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 29/4/2014, bị cáo cùng với Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1 đang đánh bạc với nhau, bằng hình thức đặt cược xóc đĩa chẵn hoặc lẻ được, thua bằng tiền tại nhà Vũ Trung TH, tại thôn Z, xã H, huyện B thì bị cơ quan điều tra bắt quả tang và thu giữ tại chiếu bạc 770.000đ, thu giữ trên người bị cáo 9.000.000đ; Bị cáo dùng 600.000đ để đánh bạc; số tiền 9.000.000đ bị cáo mang theo, bị cáo không sử dụng để đánh bạc.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk giữ nguyên Quyết định kháng nghị và cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra Công an huyện Buôn Đôn đã bỏ lọt người phạm tội đánh bạc là Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, để điều tra lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Trọng T cho rằng không sử dụng 9.000.000đ mang theo để đánh bạc, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, khi cơ quan điều tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Trọng T, Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1 đang đánh bạc với nhau và thu giữ tại chiếu bạc 770.000đ. T đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 9.000.000đ mang theo trên người và thừa nhận sử dụng số tiền này để đánh bạc. Trong suốt quá trình điều tra và truy tố, T thừa nhận mang theo 9.000.000đ để đánh bạc.

[2] Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Do động cơ vụ lợi, trong thời gian từ 22 giờ ngày 28/4/2018 đến 02 giờ 20 phút ngày 29/4/2018, Nguyễn Trọng T, Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1 đã đánh bạc với nhau bằng hình thức xóc đĩa được, thua bằng tiền, tại nhà Vũ Trung TH, thuộc thôn Z, xã H, huyện B; tổng số tiền đánh bạc là 9.770.000đ.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Nguyễn Trọng T phạm tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không khởi tố, truy tố đối với Hoàng Trọng L, Vũ Đình N, Đàm Tuấn C, Lục Văn M, Vũ Trung TH và Hoàng Văn H1 là người thực hiện hành vi đánh bạc với Nguyễn Trọng T về tội Đánh bạc, là bỏ lọt người phạm tội. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, khởi tố những người nêu trên nhưng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn không chấp nhận, là trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cần chấp nhận yêu cầu kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại và khởi tố những người nêu trên về tội Đánh bạc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk - Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HSST ngày 25/02/2019, của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn để điều tra lại.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ