vanban.org

Bản án 147 — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Lương Thị Thanh S - Hoàng Ngọc L"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/20220/DS-PT
Ngày 13/7/2022
V/v Tranh chấp về yêu cầu
công khai xin lỗi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Anh Minh

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

Bà Lê Thị Mỹ Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Lương – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 13/7/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/DS-PT ngày 30 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp về yêu cầu công khai xin lỗi”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2329/2021/QĐPT-DS ngày 13/6/2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thị Thanh S, sinh năm 1964;

Địa chỉ: 322/16/18 C.M.T.T, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Hoàng Ngọc L, sinh năm 1957;

Địa chỉ: 322/16/14 C.M.T.T, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Nhật M, sinh năm 1985 và bà Nguyễn T.N.A, sinh năm 1958; Cùng địa chỉ: 322/16/14 C.M.T.T, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền do Văn phòng Công chứng Lê K.T chứng nhận ngày 22/01/2021, Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16/7/2020, 30/7/2020, đơn khởi kiện (sửa đổi) ngày 24/11/2020 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S trình bày:

Vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 28/4/2019, sau khi tạnh mưa bà Lương Thị Thanh S (nay viết tắt tên S) vệ sinh nhà trên lầu nên nước chảy xuống đường thoát nước của hẻm chung và đọng lại trước nhà 322/16/14 C.M.T.T. Bà Nguyễn T.N.A (là vợ ông Hoàng Ngọc L) qua nhà yêu cầu bà S quét nước đọng trước nhà nhưng chưa kịp dọn thì ông Hoàng Ngọc L (nay viết tắt tên Linh) đã sang nhà bà S chửi với những lời lẽ thô tục. Vì bức xúc trước lời lẽ thô tục, bà S định xuống lầu nói chuyện nhưng do hàng xóm can ngăn nên bà S không ý kiến lại.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, bà S đang đứng nói chuyện với cô Sâm hàng xóm, Ông L chạy xe ngang qua, dừng lại chỉ tay vào bà S lớn tiếng “Tao nói thẳng cho mày biết, mày còn quét nước xuống nhà tao thì mày coi chừng tao đó, đồ con đĩ”. Lúc đó, ông Hoàng Nhật M (là con ông L) định xông vào đánh bà S nhưng có hàng xóm cản lại. Ông L kéo ông M về nhưng lại liên tục chửi bà S “Đồ con đĩ chó” và giơ mũ bảo hiểm đánh bà S nhưng bà Lê Thị K.T đã kịp ngăn cản. Sau đó, bà S trình báo toàn bộ sự việc cho Công an Phường N, Quận B để giải quyết và chính quyền địa phương đã tổ chức nhiều cuộc họp để hòa giải các bên nhưng gia đình Ông L không có mặt. Thời gian sau, Ông L vẫn kiếm chuyện, sỉ nhục, thách thức và có hành vi hành hung bà S. Nhận thấy Ông L đã sử dụng từ đĩ là xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín nên bà S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Ông L xin lỗi bà S trước cuộc họp tổ dân phố nơi bà S cư trú và phải có văn bản cam kết về việc không tái phạm sự việc này; đề nghị xử phạt theo quy định các hành vi gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Ông L tại khu phố.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hoàng Ngọc L có bà Nguyễn T.N.A, ông Hoàng Nhật M đại diện trình bày:

Bị đơn xác nhận vào ngày 28/4/2019 hai bên có cãi nhau trước cửa nhà bà S nhưng sự việc không như bà S trình bày. Sự việc xuất phát tự việc bà S xả nước thải chảy tràn ra khu phố và đọng lại trước nhà 322/16/14 C.M.T.T (nhà ông L). Bà A là vợ Ông L sang nhắc bà S quét nước thải thì bà S chửi lại nên hai bên xảy ra tranh cãi. Trong khi tranh luận, Ông L chỉ nói với ông M “mày đi vô nhà không đôi co với con quỷ này”. Sau đó, Công an Phường N, Quận B đã mời các bên làm việc theo Biên bản cam kết ngày 28/4/2019 và xác định ông L, ông M không xúc phạm nhân phẩm hay đánh giết bà S. Sự việc ngày 28/4/2019 chỉ là tranh chấp lời qua tiếng lại, Ông L không sử dụng những từ ngữ xúc phạm nhân phẩm, danh dự bà S và không đe dọa tính mạng đối với bà S. Vì vậy, Ông L không đồng ý các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà S.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bà S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc Ông L xin lỗi bà S trước cuộc họp tổ dân phố và phải có văn bản cam kết về việc không tái phạm sự việc; Không đề nghị xử phạt Ông L mà xác định là kiến nghị cơ quan hành chính tại địa phương xử phạt Ông L do có hành vi gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu phố. Ngoài ra, Ông L còn phải bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm bị xúc phạm với số tiền tương đương 10 tháng lương cơ bản là 14.900.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S về việc buộc ông Hoàng Ngọc L xin lỗi bà Lương Thị Thanh S trước cuộc họp tổ dân phố và có văn bản cam kết về việc không tái phạm sự việc; về việc yêu cầu Tòa án kiến nghị cơ quan hành chính tại địa phương xử phạt ông Hoàng Ngọc L do có hành vi gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu phố.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 11/4/2022, nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên toà phúc thẩm:

- Nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà; Ngoài ra bà S đề nghị triệu tập Công an Phường N Quận B ra phiên Tòa phúc thẩm để giải thích tại sao không xử phạt hành chính; Bà S đề nghị xem xét buộc Ông L bồi thường cho bà thiệt hại về tinh thần là 10 tháng lương cơ bản là 14.900.000 đồng.

- Bị đơn ông Hoàng Ngọc L (Có ông Hoàng Nhật M và bà Nguyễn T.N.A đại diện theo ủy quyền) có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghỉ để nghị án Thẩm phán Chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Lương Thị Thanh S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S nộp đơn kháng cáo, Biên lai thu tạm ứng án phí phúc thẩm đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Đơn kháng cáo của bị đơn được chấp nhận.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Hoàng Nhật M và bà Nguyễn T.N.A có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện vào ngày 28/4/2019 bà S với gia đình Ông L có xảy ra tranh cãi. Khi sự việc xảy ra Công an Phường N, Quận B có lập biên bản ghi nhận sự việc tranh cãi, nội dung biên bản thể hiện giữa bà S và gia đình Ông L có cãi vả nhau, không có nội dung thể hiện Ông L có lời lẽ xúc phạm danh dự, nhân phẩm như bà S trình bày. Tại cấp sơ thẩm bà S có cung cấp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án như đoạn clip hình ảnh sự việc tranh cãi ngày 28/4/2019 và lời trình bày của người làm chứng bà T. Xét đoạn clip bà S cung cấp có hình ảnh nhưng không có tiếng nói nên không thể xác định được Ông L có nói những lời như bà S khai, ngoài ra lời khai của người làm chứng bà T là chưa đủ căn cứ để chứng minh Ông L đã sử dụng từ ngữ xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của bà S. Cấp sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà S là có cơ sở.

Về yêu cầu bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm bị xúc phạm với số tiền tương đương 10 tháng lương cơ bản là 14.900.000 đồng của bà S tại phiên tòa sơ thẩm; Cấp sơ thẩm không xem xét là có cơ sở vì yêu cầu này của bà S vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà phúc thẩm bà S không đưa ra chứng cứ nào mới. bà S đề nghị Tòa triệu tập công an Phường N, Quận B để làm rõ việc tại sao không xử phạt vi phạm hành chính đối với ông L, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này không có cơ sở chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, thu thập, đánh giá đúng và đầy đủ tài liệu, chứng cứ đối với vụ án; Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng pháp luật; Nội dung kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm của nguyên đơn là không có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm do bà S thuộc trường hợp được miễn án phí nên bà S không phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lương Thị Thanh S về việc buộc ông Hoàng Ngọc L xin lỗi bà Lương Thị Thanh S trước cuộc họp tổ dân phố và có văn bản cam kết về việc không tái phạm sự việc; về việc yêu cầu Tòa án kiến nghị cơ quan hành chính tại địa phương xử phạt ông Hoàng Ngọc L do có hành vi gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại khu phố.

2. Về án phí dân sự:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lương Thị Thanh S thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí.

Trả lại cho bà Lương Thị Thanh S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0007874 ngày 30/9/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lương Thị Thanh S không phải chịu án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ