vanban.org

Bản án 147/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T.

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn giữa bà Nguyễn Phương N với ông Phạm Nhựt T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01/11/2024
V/v “Ly hôn giữa chị N với anh T”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hoàng Mích.

2. Bà Đào Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên Tòa: Ông Đặng Huỳnh Khánh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 422/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/2024/QĐST- HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 215/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Phƣơng N, sinh năm 2002 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Vinh Châu, xã VQT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

Chị N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt đề ngày 23/9/2024.

* Bị đơn: Phạm Nhựt T, sinh năm 1999 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Vinh Hội, xã VQT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 01/8/2024, bản tự khai ngày 23/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Phương N trình bày:

Chị Nguyễn Phương N với anh Phạm Nhựt T cưới nhau trên tinh thần tự nguyện và có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã VQT vào năm 2022. Thời gian đầu, vợ chồng sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 12 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau, anh T không lo làm ăn, không lo cho gia đình. Chị N cố gắng hàn gắn, thuyết phục anh T xây dựng lại hạnh phúc gia đình, tuy nhiên không có kết quả, từ đó dẫn đến tình cảm vợ, chồng không còn. Vợ, chồng sống ly thân từ tháng 03 năm 2024 cho đến nay. Hiện tại, tình cảm vợ chồng không còn, nên chị N yêu cầu ly hôn với anh Phạm Nhựt T.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/8/2022. Hiện tại, con chung đang sống với chị N, sau khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh Phạm Nhựt T cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn Phạm Nhựt T trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, mặc dù anh T vẫn còn đang sinh sống tại địa phương, nên không thu thập được lời khai.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chị Nguyễn Phương N thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn Phạm Nhựt T không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/8/2022 cho chị Nguyễn Phương N trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị N nuôi con chung không yêu cầu anh Phạm Nhựt T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N khai không có, anh T cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Phương N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn Phạm Nhựt T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Chị N với anh T cưới nhau vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hàn gắn được. Hiện tại, ai cũng có cuộc sống riêng, không quan T đến nhau. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của chị N trong quá trình giải quyết vụ án đủ cơ sở xác định cuộc sống vợ, chồng giữa chị N với anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cự cải nhau, đồng thời vợ, chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay.

Toà án đã triệu tập chị N và anh T để hoà giải, nhằm tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh T vắng mặt không có lý do, đồng thời chị N cũng có yêu cầu xét xử vắng mặt, cho thấy hai bên đã không còn quan T và không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với nhau. Từ đó, xét thấy cuộc sống vợ, chồng giữa chị N với anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung:

Cháu Phạm Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/8/2022, đang sống chung với chị N, cháu phát triển bình thường. Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao Cháu Phạm Nguyễn Khánh Đ để chị N trực tiếp nuôi dưỡng nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của trẻ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc chị Nguyễn Phương N tự nguyện không yêu cầu anh Phạm Nhựt T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Phương N khai không có, anh Phạm Nhựt T cũng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BĐ về quan điểm giải quyết vụ án: phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T.

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T.

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Phương N đối với anh Phạm Nhựt T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Phương N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 19/8/2022.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Phương N không yêu cầu anh Phạm Nhựt T cấp dưỡng nuôi.

Anh Phạm Nhựt T không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Nguyễn Phương N trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Phạm Nhựt T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Nguyễn Phương N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002045 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

Như vậy, chị Nguyễn Phương N đã nộp đủ án phí.

Các đương sự chị Nguyễn Phương N, anh Phạm Nhựt T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ