vanban.org

Bản án 147/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 28/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HS-ST
Ngày 28/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Việt Hoài;

2. Bà Tô Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2023/HSST ngày 27 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/HSST- QĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐ-HPT ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo: Phạm Văn C, sinh ngày 02/10/1985 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T và bà Đoàn Thị N; Vợ: Đặng Thanh H, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/4/2023 cho đến nay.

* Bị hại: Ông Lại Ngọc B, sinh năm 1939; nơi cư trú: Đường Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (đã tử vong).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1938; nơi cư trú: Đường Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (là vợ ông B).

- Anh Lại Xuân T1, sinh năm 1966; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình (là con ông B).

- Chị Lại Thị Thu H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Phường H, quận B, Thành phố Hà Nội (là con ông B)

- Anh Lại Tiến T2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Đường P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (là con ông B).

- Anh Lại Đức T3, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (là con ông B).

- Anh Lại Đức T4, sinh năm 1977; nơi cư trú: Đường K, Phường 3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (là con ông B).

- Anh Lại Khánh T5, sinh năm 1976; nơi cư trú: Đường Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (là con ông B).

Người đại diện theo ủy quyền của bà T, anh T1, chị H, anh T3, anh T4, anh T5: Anh Lại Tiến T2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Đường P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng: Anh Đoàn Công U, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáó và anh T2, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 11/3/2023, Phạm Văn C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu sơn xanh, biển số đăng ký X xuất phát từ huyện H, tỉnh Thái Bình để đi về tỉnh Nam Định, cùng đi với C ngồi ghế phụ là anh Đoàn Công U. Khoảng 10 giờ cùng ngày, C điều khiển xe ô tô đi trên đường tránh phía Nam hướng từ đường T đi đường tỉnh 454. Khi đi đến khu vực ngã ba đường tránh phía nam giao với đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình, lúc này người và phương tiện tham gia giao thông trên đường bình thường, không có phương tiện giao thông đỗ đậu, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn, đường dải nhựa áp phan phẳng. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi đi vào đường giao nhau nên đầu phía trên ốp kim loại tai xe bên phải xe ô tô do bị cáo điều khiển đã va chạm với đầu ngoài tay phanh bên phải, ốp kim loại tay nắm lái bên phải xe mô tô biển số Y do ông B điều khiển đi trên đường ngược chiều chuyển hướng rẽ trái sang đường L làm xe mô tô đổ nghiêng trái trên mặt đường trong ngã ba, ông B ngã xuống đường bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, đến 13 giờ 30 phút cùng ngày thì tử vong.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 340/KLGĐTT-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình đối với tử thi ông Lại Ngọc B xác định: “1. Các kết quả chính: Khám ngoài: Trên tử thi có một số vết sây sát da, rách da, trợt da, bầm máu tại vùng đầu, mặt, mông, tay và chân; Khám trong: Tụ máu dưới da đầu; nứt vỡ xương sọ vùng đỉnh chẩm, chảy máu não; gãy 06 xương sườn cung bên phải; gãy 2 xương cẳng chân bên phải. 2. Kết luận: Nạn nhân Lại Ngọc B chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương”.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng là đúng.

Bản cáo trạng số 122/CT-VKSTPTB ngày 26/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K2700II, màu sơn xanh, biển số đăng ký X và trả lại cho anh Lại Tiến T2 là đại diện gia đình ông B chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN, màu sơn xanh, biển số đăng ký Y. Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số 360208001871, mang tên Phạm Văn C.

* Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bồi thường của bị cáo và đại diện gia đình bị hại, nay đại diện bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

* Về án phí: Bị cáo được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bào chữa, không có ý kiến tranh luận.

Đại diện bị hại không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, không có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và được chứng minh bằng:

- Biên bản khám nghiê ̣m hiê ̣n trườ ng; Sơ đồ hiê ̣n trườ ng, bản ảnh hiện trường.

- Biên bản khám nghiê ̣m phương tiê ̣n; Bản ảnh khám nghiệm phương tiện.

- Kết luận giám định pháp y tử thi số 340/KLGĐTT-KTHS ngày 22/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình đối với tử thi ông Lại Ngọc B.

- Biên bản ghi lời khai của đại diện bị hại, lời khai người làm chứng.

- Biên bản thỏa thuận bồi thường.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn C đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ (Quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 5 thông tư 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29 tháng 8 năm 2019, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ) đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải.

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

...

3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;

Luật giao thông đường bộ.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

...

23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 11/3/2023, Phạm Văn C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA, màu sơn xanh biển số đăng ký X đi trên đường tránh phía Nam hướng từ đường H đi đường tỉnh 454. Khi đi đến khu vực ngã ba đường tránh phía Nam giao với đường L, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi vào đường giao nhau nên đầu phía trên ốp kim loại tai xe bên phải của xe ô tô do bị cáo điều khiển đã va chạm với đầu ngoài tay phanh bên phải, ốp kim loại tay nắm lái bên phải xe mô tô biển số đăng ký Y do ông Lại Ngọc B điều khiển đi trên đường ngược chiều chuyển hướng rẽ trái đi vào đường L. Hậu quả ông B tử vong do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Hiện nay mật độ người và phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng, để hạn chế tai nạn giao thông Nhà nước đã có quy định rất chặt chẽ, cụ thể đối với hành vi và điều kiện bắt buộc, cần thiết đối với người tham gia giao thông nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân. Bị cáo không chú ý quan sát nên khi phát hiện thấy ông B thì khoảng cách đã quá gần, bị cáo không kịp giảm tốc độ, xe ô tô tải do bị cáo điều khiển đã va chạm vào xe mô tô do ông B điều khiển làm ông B tử vong. Hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết này được giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.

Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và gia đình bị hại việc thỏa thuận bồi thường về dân sự là 70.000.000 đồng, nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan Điều tra đã trả lại cho bị cáo chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K2700II, màu sơn xanh, biển số đăng ký X và trả lại cho anh Lại Tiến T2 là đại diện gia đình bị hại chiếc xe mô tô nhãn hiệu LONCIN, màu sơn xanh, biển số đăng ký Y. Trả cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số 360208001871 mang tên Phạm Văn C.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là hộ nghèo, có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo và đại diện bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65; Điều 46 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Nam Hùng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu bị cáo Phạm Văn C thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Phạm Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

3. Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường về trách nhiệm dân sự, nay đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

4. Xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số 360208001871 mang tên Phạm Văn C.

(Vật chứng của vụ án Công an thành phố Thái Bình đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 26/6/2023).

5. Án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo và đại diện bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2023). Đại diện bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ