vanban.org

Bản án 147/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về điều luật áp dụng:

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 2 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HS-ST
Ngày 30 -8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Môn

2. Ông Nguyễn Văn Bảng

- Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Văn T, sinh năm 1993. Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn TA, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 8/12; Con ông: Vũ Văn S, sinh năm 1963; Con bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1964. Vợ, con: Không có.

Tiền án: không: Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Ông Lương Quốc S, sinh năm: 1954 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn ĐL, xã TM, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

2. Ông Lê Minh H, sinh năm: 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn G, xã TM, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 0 giờ 15 phút ngày 30/4/2023, tổ tuần tra công an xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang tuần tra tại khu vực đầu đường đi vào Thôn ĐL, xã TM, thành phố Bắc Giang đã phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn T, sinh năm 1993 trú tại thôn N, thị trấn TA, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác đã lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng ghi là ma túy, gồm: “01 túi nilon một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ, bề mặt dán băng dính màu đen, bên trong đựng 6 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn ống nhựa đều đựng một viên nén màu hồng đỏ; 02 túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bề mặt dán băng dính màu đen, bên trong mỗi túi đều đựng hai túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu màu xanh, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 01 đoạn băng dính màu đen được dán cuộn tròn bên trong đựng một túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng; 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong đều đựng một viên nén màu hồng đỏ”. Tất cả số vật chứng trên đều được niêm phong trong một phong bì thư ký hiệu “QT1”. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của T 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, số seri 199669 đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng hồng số seri FK1NM7M5G5QQ đã qua sử dụng.

Cơ quan điều tra đã khám xét nơi ở của Vũ Văn T nhưng không thu được tài sản gì. Kiểm tra dữ liệu trong điện thoại thu giữ của T không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật. Xét nghiệm chất ma túy đối với Vũ Văn T, tại phiếu xét nghiệm ngày 30/4/2023 xác định Vũ Văn T có kết quả dương tính với chất ma túy MDMA, MET.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với các vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Vũ Văn T. Tại kết luận giám định số 794/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

“+ 06 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 6 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, được đựng trong một túi nolon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài dán mảnh băng dính màu đen đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,581 gam, loại Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong hai túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, được đựng trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài dán mảnh băng dính màu đen đều là ma túy có tổng khối lượng là 0,322gam, loại Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng đựng trong hai túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh, được đựng trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài dán mảnh băng dính màu đen đều là ma túy có tổng khối lượng là 0,466gam, loại Methamphetamine.

+ Trong một cuộn băng dính màu đen: Chất tinh thể màu trắng đựng trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma túy có tổng khối lượng là 0,130gam, loại Methamphetamine; 02 viên nén màu hồng đỏ đựng trong hai đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu đều là ma túy, có khối lượng 0,193gam, loại Methamphetamine”.

Vũ Văn T khai nhận là người nghiện ma túy, khoảng 15 giờ ngày 28/4/2023, T gọi điện thoại cho một người đàn ông không quen biết hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy, mục đích để sử dụng. Người đàn ông này hẹn T giao dịch ở khu vực cầu Điếm Tổng, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, T đã thuê xe taxi đến điểm hẹn. Theo chỉ dẫn của người đàn ông qua điện thoại, T đi đến đường bờ kênh khoảng 2 km hướng về huyện Việt Yên, đến một bãi rác ở ven đường cạnh đó có một viên gạch, T nhấc viên gạch lên thì thấy phía dưới để một túi nilon màu trắng bên trong đựng 9 viên ma túy ngựa (mỗi viên đựng trong một đoạn ống nhựa bịt kín hai đầu) và 06 túi nilon đựng ma túy dạng đá. T cất giấu toàn bộ số ma túy trong túi quần bên phải rồi để số tiền 1.500.000 đồng dưới viên gạch. Sau đó, T gọi một xe taxi đến đưa về nhà. Khi về nhà, T sử dụng hết một viên ma túy ngựa và một túi ma túy đá. Số ma túy còn lại T bỏ 06 viên ma túy ngựa vào một túi nilon, còn 02 viên ma túy ngựa và một túi ma túy đá còn lại thì T dùng băng dính đen quấn tròn để tiện cho việc sử dụng. Khoảng 22 giờ ngày 29/4/2023 T thuê xe ôm đến khu vực thôn Đông Lý và có đem theo số ma túy trên để sử dụng. Khoảng 0 giờ ngày 30/4/2023 khi T đang đi bộ trên đường thì bị công an kiểm tra và bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các chứng cứ đã thu thập được và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo T đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2023.

+ Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy: số mẫu vật, vật chứng là ma túy methamphetamine hoàn lại sau giám định; Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng hồng số seri FK1NM7M5G5QQ đã qua sử dụng của bị cáo T; Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, số seri 199669 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khai do là người nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy về sử dụng. Bị cáo đã bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng mua được 9 viên ma túy ngựa và 06 túi nilon dạng đá của một người đàn ông không quen biết trên khu vực gần cầu Bến Tổng. Bị cáo đã sử dụng điện thoại Iphone 6 Plus và sim rác để liên lạc với người đàn ông đó để mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã sử dụng một phần đến tối ngày 29/4/2023 bị cáo đã mang số ma túy còn lại đi chơi, khi bị cáo đang đi bộ tại khu vực Thôn ĐL, xã TM thì bị kiểm tra, bắt quả tang. Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

. Về sự vắng mặt của người làm chứng: Hội đồng xét xử thấy, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng những người tham gia tố tụng trên vắng mặt, trong quá trình điều tra, những người làm chứng đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai, sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng khi bị bắt và còn được chứng minh bằng kết luận giám định số 794/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang đối với số vật chứng là ma túy đã thu giữ. Có cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 30/4/2023 tại khu vực Thôn ĐL, xã TM, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Vũ Văn T đã bị tổ công tác, công an xã Tân Mỹ, thành phố Bắc Giang kiểm tra, bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại methamphetamine, có tổng khối lượng 1,692 gam.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, đe dọa sức khỏe, tính mạng con người, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm nguy hiểm khác. Với hành vi của bị cáo như trên đã đủ căn cứ chứng minh bị cáo phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội danh, điều, khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 của BLHS.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, HĐXX thấy kiểm sát viên đề xuất là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số mẫu vật, vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng hồng số seri FK1NM7M5G5QQ đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo T, cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma túy, do đó tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, số seri 199669 đã qua sử dụng, là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó HĐXX quyết định trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Đối với việc T khai đã mua số ma túy của một người đàn ông tại khu Bến Tổng, xã Quê Nham, huyện Tân Yên. Do T khai không biết thông tin về điói tượng trên và cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định được đối tượng bán ma túy cho T, do đó Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để xác minh và xử lý, HĐXX thấy là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. HĐXX quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; điều 135, điều 136; điều 292; điều 331, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

[2]. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 2 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2023.

[3]. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy heroin còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT1” được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang hoàn lại sau giám định, gồm:

+ Trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài dán mảnh băng dính màu đen: mẫu viên nén màu hồng đỏ là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,547 gam; Vỏ bao gói mẫu sau giám định.

+ Trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài dán mảnh băng dính màu đen: mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,283 gam; Vỏ bao gói mẫu sau giám định.

+ Trong một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài dán mảnh băng dính màu đen: mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,396 gam; Vỏ bao gói mẫu sau giám định.

+ Trong một cuộn băng dính màu đen: Mẫu chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) tui nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,108 gam; Mẫu viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu là ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định 0,156 gam.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, số seri 199669 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng hồng số seri FK1NM7M5G5QQ của Vũ Văn T đã qua sử dụng.

[4]. Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Cỡ chữ