vanban.org

Bản án 147/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Đặng Tuấn K1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; nhưng cho hư ng án treo.

Giao bị cáo Đặng Tuấn K1 cho Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đặng Tuấn K1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "147 - 2023 Đặng Tuấn K (điểm a K1-260) - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đặng Tuấn K1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; nhưng cho hư ng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HS-ST
Ngày: 20 – 9 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đặng Thu Vân.

2/ Bà Đặng Thị Huê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 163/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023, theo quyết định đưa v án ra xét xử số 238/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Đặng Tuấn K1, sinh năm: 1985, tại Trà Vinh; nơi cư trú: {Hộ khẩu thường trú: Ấp KX, xã TH, huyện CK, tỉnh TV; chỗ : Số 60C đường MTB, KP1, phường BHHA, quận BT, Thành phố HCM (nhà thuê, phòng số 3)}; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hoàng T1 và bà Tống Thị Mỷ D1; chung sống như vợ chồng với Phan Thị Cẩm D2 (sinh năm: 1984) vào năm 2014 và có 01 (một) con chung (sinh năm: 2016), hiện hai bên đã tự ly thân, không còn chung sống với nhau; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt;

Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).

- Bị hại: Ông Nguyễn Hiền T2, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (đã chết).

Người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của bị hại Nguyễn Hiền T2:

1. Bà Trần Du T3, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (là vợ của bị hại Nguyễn Hiền T2).

(Có mặt).

2. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1962; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (là cha ruột của bị hại Nguyễn Hiền T2).

(Vắng mặt).

3. Bà Nguyễn Thu T5, sinh năm: 1962; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (là mẹ ruột của bị hại Nguyễn Hiền T2).

(Vắng mặt).

4. Trẻ Nguyễn Trần Khánh T6, sinh ngày 21/02/2014; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (là con ruột của bị hại Nguyễn Hiền T2).

Người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật) của trẻ Nguyễn Trần Khánh T6: Bà Trần Du T3, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (là mẹ ruột). (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thu T5, sinh năm: 1962; nơi cư trú: Số 263/27/40 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM. (Vắng mặt).

2. Ông Đặng Văn K2, sinh năm: 1984; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Số 22 ấp AT, xã PH, huyện MCN, tỉnh BT; chỗ : Số 354/16/6 QLMA, khu phố 3, phường BHHB, quận BT, Thành phố HCM). (Có mặt).

3. Bà Nguyễn Hồng L1, sinh năm; 1968; nơi cư trú: Khóm H, Phường M, thị xã GR, tỉnh BL. (Vắng mặt).

4. Anh Đỗ Huỳnh T7, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Số 1436H PTH, Phường N, Quận T, Thành phố HCM. (Vắng mặt).

5. Ông Lê Đ1 Lâm S1, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số 566/59 NTS, Phường N, quận GV, Thành phố HCM. (Vắng mặt).

6. Ông Phan Đặng Minh T8, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số B13A/12 ấp HC, xã VLB, huyện BC, Thành phố HCM. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ, ngày 05/01/2022, ông Đặng Văn K2 giao Đặng Tuấn K1 (là tài xế lái xe, làm thuê cho ông K2) điều khiển xe ô tô biển số: 51D-518.41 (loại xe có cần cẩu) đến số 127/95 BMT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM để ch máy in cho khách hàng là ông N1. Khoảng 30 phút sau, K1 mang theo giấy phép lái xe hạng C, số 790040010874 do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp, điều khiển xe ô tô trên đến điểm hẹn để ch hàng. K1 cùng ông N1 và ông Nguyễn Tấn Đ1 (là người làm thuê cho ông N1) cẩu 02 máy in lên thùng xe của xe ô tô nói trên rồi ch đến ngã tư đường PH với đường NVL. Sau đó, K1 cùng ông N1 và ông Đ1 quay lại số 127/95 BMT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM tiếp t c ch 02 máy in còn lại. K1 điều khiển xe ô tô biển số: 51D-518.41, ông N1 ngồi ghế giữa, ông Đ1 ngồi ghế lơ xe lưu thông trên đường Lô A thuộc cư xá BMT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM (hướng từ hẻm 227 LNT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM về đường BMT, Phường N, Quận T, Thành phố HCM).

Khi xe ô tô do K1 điều khiển chạy đến trước số 1D, đường Lô A, cư xá BMT, Phường N, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (lúc này K1 đang điều khiển xe lấn sang bên trái của phần đường ngược chiều với hướng xe lưu thông của K1 điều khiển, nhưng không có bật đèn tín hiệu bên trái) thì phát hiện ông Nguyễn Hiền T2 đang điều khiển xe mô tô biển số: 94D1-319.36 lưu thông theo hướng ngược lại, ông T2 có biểu hiện loạng choạng tay lái (qua kiểm tra nồng độ cồn trong máu của ông T2 là 131 mg/100ml, ông T2 có đội mũ bảo hiểm và có đeo khẩu trang) nên K1 liền bấm còi xe báo hiệu và nhanh chóng đánh lái vô lăng xe ô tô tải sang bên phải, nhưng lúc này bên hông phải xe ô tô có 01 xe mô tô (không rõ biển số) do một người ph nữ (không rõ lai lịch) đang điều khiển lưu thông cùng chiều với xe ô tô tải của K1; vì vậy, K1 không thể điều khiển xe ô tô tải sang phải được và ngay lúc này xe ô tô tải do K1 điều khiển đã va chạm (đ ng) với xe mô tô do ông T2 điều khiển theo hướng lưu thông ngược lại (xe mô tô của ông T2 va chạm vào phần bên trái phía trước xe ô tô biển số: 51D-518.41 do K1 điều khiển) và ông T2 bị té ngã xuống đường (hướng té ngã ngửa về phía sau và đầu bị đập xuống mặt đường); thấy vậy, K1 dừng xe lại và rời khỏi cabin xe để xuống cùng người dân và gia đình ông T2 đưa ông T2 đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy. Đến ngày 14/01/2022, ông T2 tử vong tại bệnh viện. Sau đó, toàn bộ v việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Sau v tai nạn, 02 máy in của ông N1 trên xe ô tô vẫn còn nguyên vẹn, không bị hư hỏng và ông N1 đã nhận lại.

Ngày 14/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định kh i tố v án hình sự, kh i tố bị can, ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đặng Tuấn K1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra, Đặng Tuấn K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Thời điểm xảy ra tai nạn, K1 không sử d ng rượu bia hay chất kích thích, nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do K1 điều khiển xe ô tô tải biển số: 51D-518.41 không đi đúng phần đường quy định, lấn sang phần đường ngược chiều, bánh trước bên trái xe ô tô tải lấn 80cm, bánh sau bên trái xe ô tô tải lấn 80cm.

Ngày 16/02/2022, Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Hiền T2 là chấn thương sọ não/ Đa chấn thương.

Ngày 23/02/2022, Phân viện Khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công An phía Nam kết luận giám định:

- Xe ô tô biển số: 51D-518.41 có va chạm với xe mô tô biển số: 94D1-319.36.

- Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số: 51D-518.41 và xe mô tô biển số: 94D1-319.36 với phương tiện khác khi xảy ra tai nạn.

- Các dấu vết phía trước bên trái xe mô tô biển số: 94D1-319.36 (trượt xước mất sơn màu đỏ bám chất màu trắng, gãy vỡ các chi tiết: ốp đầu xe, c m tay lái, mặt nạ, yếm, cung trước chắn bùn bánh trước; trượt xước mặt ngoài má bên trái bánh trước) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm, ngược chiều quay tiến phù hợp với các dấu vết bên trái phía trước xe ô tô biển số: 51D-518.41 (trượt xước mất sơn màu trắng bám chất màu đỏ mặt ngoài khe tản nhiệt, ốp phía trước đầu xe; gãy vỡ đèn chiếu sáng; trượt xước bám chất màu đen mặt ngoài cản trước) có chiều từ trước về sau.

Ngày 25/02/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 phối hợp Đội Cảnh sát Giao thông - Trật tự Công an Quận 8 và Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 dựng lại hiện trường v “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nêu trên, kết quả:

- Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng thuộc đường lô A, cư xá BMT, Phường N, Quận T được trải nhựa bê tông tương đối bằng phẳng. Mặt đường rộng 06 mét, không có vạch sơn phân chia phần đường, được áp d ng lưu thông hai chiều cho các loại xe lưu thông. Đường Lô A có 01 điểm giao nhau với đường Bùi Minh Trực, 01 điểm giao nhau với đường Lô K, Phường N, Quận T. Cả 02 điểm giao này, không có gắn biển báo hiệu giao thông đường bộ.

- Lấy mép đường bên phải theo chiều xe mô tô biển số: 94D1-319.36 làm mép đường cố định để đo các dấu vết tại hiện trường, đơn vị đo tính bằng mét (m). Lấy tr điện không số trước nhà số 1D, cư xá BMT, Phường N, Quận T tại mép đường đối diện với mép đường cố định làm cột mốc cố định hiện trường. Từ tâm tr điện đo ra mép đường cố định có kích thước 0m2, từ tâm tr điện đo đến tâm tr c bánh sau bên phải xe ô tô biển số: 51D-518.41 có kích thước 2m2.

- Sau v tai nạn, xe ô tô biển số: 51D-518.41 dừng tại hiện trường, đầu xe hướng về đường Bùi Minh Trực, đuôi xe hướng về đường hẻm số 227, LTN, Phường N, Quận T. Từ tâm tr c bánh trước bên trái xe ô tô vào mép đường cố định có kích thước 2m2. Từ tâm tr c bánh sau bên trái xe ô tô đo vào mép đường cố định có kích thước 2m2. Từ tâm tr c bánh trước bên trái xe ô tô đo đến tâm tr c bánh trước xe mô tô biển số: 94D1-319.36 có kích thước 1m2. Từ tâm tr c bánh sau bên phải xe ô tô đo vào cột mốc có kích thước 2m2.

- Sau v tai nạn, xe mô tô biển số: 94D1-319.36 ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng về hẻm số 227 LTN, Phường N, Quận T, đuôi xe hướng về đường BMT, Phường N, Quận T. Từ tâm tr c bánh trước xe mô tô đo vào mép đường cố định có kích thước 2m2. Từ tâm tr c bánh sau xe mô tô đo vào mép đường cố định có kích thước 2m7.

- Sau v tai nạn, nạn nhân ngã ngửa, hai tay hướng lên phía trên, hai chân duỗi thẳng, nằm phía bên phải xe mô tô. Từ cánh tay bên phải đo vào mép đường cố định có kích thước 0m4. Từ bàn chân bên phải đo vào mép đường cố định có kích thước 02m. Từ bàn chân bên trái đo đến tr c ngoài bánh xe sau của xe mô tô có kích thước 0m6.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô biển số: 51D-518.41, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 484671, 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 0371991, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô. Qua điều tra, xác minh là tài sản hợp pháp của ông Đặng Văn K2. Cơ quan điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông K2.

- 01 xe mô tô biển số: 94D1-319.36, qua điều tra, xác minh là tài sản của bà Nguyễn Thu T5. Cơ quan điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe cho bà T5.

- 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 790040010874, do S Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/3/2020 mang tên Đặng Tuấn K1.

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 790108240465, do S Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/5/2015 mang tên Nguyễn Hiền T2.

Về trách nhiệm dân sự:

- Phía bị hại xác nhận đã nhận số tiền bồi thường tổng cộng là 265.000.000 đồng và chi phí ma chay (nhận của bị cáo K1 là 100.000.000 đồng và của chủ xe ô tô biển số 51D-518.41 là ông Đặng Văn K2 số tiền 165.000.000 đồng cùng chi phí ma chay), nên không có yêu cầu gì thêm.

- Phía người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án (ông Đặng Văn K2 và bà Nguyễn Thu T5): Không có yêu cầu (do xe chỉ bị trầy xướt nhẹ và hư hao không đáng kể, nên đã tự sửa chữa).

* Bản cáo trạng số 21/CT-VKS-Q8 ngày 05/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Đặng Tuấn K1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Tuấn K1 theo Cáo trạng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp d ng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Đặng Tuấn K1 mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nhưng cho bị cáo hư ng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

- Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết (do đương sự trong v án không có yêu cầu).

- Về vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;

+ Trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn K1 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 790040010874, do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/3/2020 mang tên Đặng Tuấn K1 (đã thu giữ của bị cáo K1).

+ Tịch thu lưu theo hồ sơ v án 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 790108240465 do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/5/2015 mang tên Nguyễn Hiền T2.

* Bị cáo Đặng Tuấn K1 thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện, không tranh luận, không bào chữa và xin được xử mức án nhẹ để có điều kiện lo cho gia đình, chăm sóc cha, mẹ già yếu và con nhỏ, bản thân đang là lao động chính hiện đang nhà thuê.

* Đại diện phía bị hại (bà Trần Du T3): Bà T3 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đặng Tuấn K1 và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo K1 được hư ng án treo, tạo cơ hội cho bị cáo K1 được tiếp t c đi làm kiếm sống để lo cho gia đình và con nhỏ; đồng thời bà T3 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và không có yêu cầu nhận lại giấy phép lái xe của ông Nguyễn Hiền T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham ghi tố t ng khác không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi tố t ng, về quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, của người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi và các quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, của người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Tuấn K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Nội dung bị cáo khai nhận về v án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ v án và phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo.

Trong v án, nguyên nhân chính dẫn đến v tai nạn giao thông như trên là do bị cáo Đặng Tuấn K1 điều khiển xe ô tô tải có cần cẩu, biển số 51D-518.41 tham gia lưu thông không đúng phần đường lưu thông theo quy định của Luật Giao thông đường bộ Việt Nam (lấn sang phía bên trái của làn đường lưu thông theo hướng ngược lại với hướng xe mà bị cáo đang điều khiển lưu thông) và bị cáo đã thiếu quan sát, xử lý tình huống kém nên đã để xảy ra va quẹt giữa xe ô tô tải mà bị cáo đang điều khiển lưu thông với xe mô tô do ông Nguyễn Hiền T2 đang điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại; từ đó dẫn đến hậu quả làm ông T2 bị ngã xe và té ngã, sau đó được đưa đi Bệnh viện cấp cứu và chết tại Bệnh viện (bị chấn thương sọ não / Đa chấn thương).

Hành vi của bị cáo Đặng Tuấn K1 đã vi phạm Quy tắc giao thông đường bộ, vi phạm nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ Việt Nam được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 4, khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 và khoản 2 Điều 15, khoản 1 Điều 17 của Luật giao thông đường bộ Việt Nam.

Do không tuân thủ Quy tắc giao thông đường bộ và nguyên tắc hoạt động giao thông đường bộ Việt Nam; nên bị cáo Đặng Tuấn K1 đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho người khác.

Hành vi này của bị cáo Đặng Tuấn K1 đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, đã có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Đặng Tuấn K1 đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Đặng Tuấn K1: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Tuấn K1 rất thành khẩn khai báo, thật sự tỏ ra ăn năn hối cải về lỗi lầm đã gây ra; sau khi xảy ra v tai nạn giao thông đã tích cực bảo vệ hiện trường và nhanh chóng cùng người dân và gia đình của bị hại T2 đưa bị hại T2 đi cấp cứu tại Bệnh viện; đồng thời bản thân bị cáo đã tự bồi thường và tác động đến chủ xe ô tô là ông Đặng Văn K2 cùng bị cáo bồi thường cho phía bị hại (lo chi phí ma chay và số tiền 265.000.000 đồng); qua đó nhằm khắc ph c một phần thiệt hại cho gia đình của bị hại; bị cáo Đặng Tuấn K1 phạm tội lần đầu; phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hư ng án treo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Đặng Tuấn K1 một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Ngoài ra, bị cáo Đặng Tuấn K1 có quá trình nhân thân tốt; nên Hội đồng xét xử cũng cần lưu ý khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét bị cáo Đặng Tuấn K1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài lần phạm tội này, bị cáo có quá trình nhân thân tốt, từ khi thực hiện hành vi phạm tội và bị kh i tố đến nay, bị cáo không vi phạm pháp luật, chấp hành tốt nghĩa v công dân nơi cư trú; có nơi cư trú rõ ràng; tại phiên tòa bị cáo rất thành khẩn khai báo và thể hiện thật sự ăn năn hối cải, quyết tâm sửa chữa lỗi lầm để tr thành người sống có ích cho xã hội. Ngoài ra, phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo Đặng Tuấn K1 được hư ng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm, chăm sóc cha, mẹ già yếu và con nhỏ.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đặng Tuấn K1 có khả năng tự cải tạo và không cần thiết phải bắt đi chấp hành hình phạt tù, vì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hư ng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, thì bị cáo Đặng Tuấn K1 có đủ điều kiện để được hư ng án treo; nên cho bị cáo hư ng án treo và có ấn định thời gian thử thách, theo quy định của pháp luật; cũng đã có tác d ng giáo d c, răn đe đối với bị cáo nói riêng và công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Bản Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Đặng Tuấn K1 là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội; mức án mà kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo Đặng Tuấn K1; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với lời đề nghị của bị cáo Đặng Tuấn K1 xin được xử phạt mức án nhẹ và lời đề nghị của phía bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đặng Tuấn K1 và xin cho bị cáo Đặng Tuấn K1 được hư ng án treo là có cơ s pháp luật để được Hội đồng xét xử chấp nhận, như Hội đồng xét xử đã phân tích nêu trên.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Xét thấy, bị cáo Đặng Tuấn K1 không phải là người có chức v và nghề nghiệp, cũng như công việc làm không ổn định; nên Hội đồng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Tuấn K1.

Về trách nhiệm dân sự:

- Phía bị hại không có yêu cầu (vì các bên đã tự thỏa thuận và giải quyết xong), nên ghi nhận.

- Phía người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án:

+ Bà Nguyễn Thu T5 không có yêu cầu bồi thường và vắng mặt tại phiên tòa, nên không xem xét giải quyết.

+ Tại phiên tòa, ông Đặng Văn K2 không có yêu cầu bồi thường; nên ghi nhận.

Về vật chứng:

- Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số 790040010874 do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/3/2020 mang tên Đặng Tuấn K1 (cơ quan Công an Quận 8 đã tạm giữ của bị cáo Đặng Tuấn K1): Đây là giấy tờ cá nhân hợp pháp của bị cáo Đặng Tuấn K1 và không có liên quan đến v án, nên cần trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn K1.

- Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 790108240465 do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/5/2015 mang tên Nguyễn Hiền T2 (cơ quan Công an Quận 8 đã tạm giữ của bị cáo ông Nguyễn Hiền T2 và hiện đang được lưu theo hồ sơ v án): Đây là giấy tờ cá nhân hợp pháp của ông Nguyễn Hiền T2, có liên quan đến v án và hiện không còn giá trị sử d ng; nên cần tịch thu và tiếp t c lưu theo hồ sơ v án.

- Đối với các tài sản khác bị tạm giữ (01 xe ô tô tải biển số 51D-518.41, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 484671, 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 0371991, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, 01 xe mô tô biển số: 94D1-319.36), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã trả lại cho chủ s hữu hợp pháp là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đặng Tuấn K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Hiền T2 có lỗi vi phạm hành chính (điều khiển xe mô tô tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn) và hiện đã tử vong sau v tai nạn giao thông, nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Đặng Tuấn K1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng 9 năm 2023).

Giao bị cáo Đặng Tuấn K1 cho Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo d c trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Đặng Tuấn K1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Đặng Tuấn K1 cố ý vi phạm nghĩa v 02 (hai) lần tr lên; thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đặng Tuấn K1 phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hư ng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đặng Tuấn K1.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Ghi nhận việc bà Trần Du T3 (đại diện phía bị hại) không có yêu, vì các bên đã tự thỏa thuận và giải quyết xong.

+ Không giải quyết đối với trường hợp của bà Nguyễn Thu T5.

+ Ghi nhận việc ông Đặng Văn K2 không có yêu cầu bồi thường.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;

+ Trả lại cho bị cáo Đặng Tuấn K1 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số 790040010874 do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/3/2020 mang tên Đặng Tuấn K1.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 16/12/2022, tại Chi c c Thi hành án dân sự Quận 8, TP.HCM).

+ Tịch thu và tiếp t c lưu theo hồ sơ v án 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1, B2 số 790108240465 do S Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/5/2015 mang tên Nguyễn Hiền T2.

- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Đặng Tuấn K1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Thi hành tại Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Bị cáo và phía bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án có mặt, có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa v của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt, có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa v của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo Đặng Tuấn K1 được rõ).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ