vanban.org

Bản án 147/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phạm.C.H 06(sáu) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2023.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm.C.H và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định bên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Chí H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phạm.C.H 06(sáu) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HS-ST
Ngày: 14- 7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tín

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thiếu Liên

2. Ông Vương Tấn Độ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Đức Nhã - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 146/2023/HSST, ngày 18 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm.C.H; sinh năm 19xx, tại: X; Hộ khẩu thường trú: Ấp 8 xã Lương Hoà, huyện B, tỉnh X; giới tính: N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: K; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phạm V.H, sinh năm 19xx và bà Trần Thị B.T, sinh năm 19xx; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo bị bắt ngày 09/01/2023(Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Ông L.K.T, sinh năm 19xx; Trú tại: Số 137/47/1/6 đường Phan Anh, phường A, quận X, Thành phố Z (Vắng mặt)

2/Ông L.A.P, sinh năm 19xx; Trú tại: Số 137/47/1/6 đường Phan Anh, phường A, quận X, Thành phố Z (Vắng mặt)

Người làm chứng:

1/Ông L.X.H, sinh năm 19xx; Trú tại: Số 114/52 đường Chiến Lược, phường A, quận X, Thành phố Z (Vắng mặt)

2/Ông Lê Q.N, sinh năm 19xx; Trú tại: Số 146/36/6/17 đường Chiến Lược, phường A, quận X, Thành phố Z (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ ngày 09/01/2023, Tổ tuần tra 363 - Công an quận Bình Tân tuần tra đến trước nhà số 439 đường Tân Hòa Đông, phường A, quận X phát hiện Phạm.C.H điều khiển xe mô tô biển số 59P2 – xxx.29 chở phía sau L.K.T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ trên móc treo phía trước đầu xe mô tô biển số 59P2 – xxx.29 có treo 01 túi giấy màu trắng bên ngoài ghi chữ ND bên trong có 01 gói nylon chứa 10 viên nén màu xanh. Nghi vấn là ma túy nên Tổ tuần tra bàn giao Công an phường Bình Trị Đông tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H cùng vật chứng của vụ án. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

- 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, có số thuê bao 0931.201.268, bị cáo H dùng liên lạc mua ma túy.

- 01 xe mô tô biển số 59P2 – xxx.29. Qua xác minh chủ sở hữu là an L.A.P, khoảng đầu năm 2018 anh Phát đưa xe mô tô trên cho con ruột là L.K.T quản lý, sư dụng. Ngày 08/01/2023, T cho H mượn xe chở nhau đi chơi thì bị kiểm tra, bắt giữ. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho T.

Những vật chứng trên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân tạm giữ, chờ xử lý.

Tại bản kết luận giám định số 658/KL-KTHS ngày 18/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm.C.H, Lê Q.N (người chứng kiến), Lý Văn Dương (Điều tra viên) và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân bên trong có:

- 10 viên nén màu xanh được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,8579g, loại MDMA.

- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 14,9453g, loại Ketamine.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phạm.C.H khai nhận: Ngày 08/01/2023 H mượn xe mô tô biển số 59P2-xxx.29 của L.K.T để điều khiển và hẹn tối ngày 09/01/2023 cùng T đi đánh bi-a rồi trả xe cho T. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/01/2023, H đến khu vực đường 14B, phường A, quận X gặp 01 người thanh niên tên N (không rõ lai lịch) mua ma túy gồm 10 viên nén màu xanh và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu với số tiền 10.000.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân, sau khi mua ma túy xong, H treo ma túy lên móc xe. Đến khoảng 22 giờ ngày 09/01/2023, H điều khiển xe chở T tìm chỗ chơi bi-a, khi điều khiển xe trước nhà số 439 đường Tân Hòa Đông, phường A, quận X thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ ma túy gồm 10 viên nén màu xanh và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu trên móc treo phía trước đầu xe mô tô biển số 59P2 – xxx.29. Việc H mua ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy thì T không biết, không liên quan; việc H treo ma túy trên móc xe mô tô biển số 59P2 – xxx.29 thì T không biết; khi H điều khiển xe chở T thì cả hai không trao đổi gì về việc H tàng trữ trái phép chất ma túy, T không có hùn tiền mua ma túy với H. Lời khai của bị cáo H phù hợp với lời khai của T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 143/CT-VKS ngày 12/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đã truy tố bị cáo Phạm.C.H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân sau khi phân tích nội dung vụ án, phân tích chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249 điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm.C.H từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 46, điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm.C.H và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 có số thuê bao 0931201268.

Tịch thu tiêu huỷ 01 túi giấy màu trắng có ghi chữ ND-Phạm.C.H.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo Phạm.C.H Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Tân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận, nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, với lời khai của, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự qui định. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hành vi của bị cáo Phạm.C.H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được qui định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội. Bỡi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo do chay lười lao động, thích hưởng thụ nên sớm đi vào con đường nghiện ngập. Mặt khác ma túy còn làm người sử dụng tự hủy hoại bản thân mà còn ảnh hưởng đến kinh tế gia đình làm cho xã hội phải gánh chịu hậu quả to lớn do ma túy để lại, góp phần làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây lan những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với người nghiện ma túy.

Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy, là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ xử lý nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên Tàng trữ trái phép chất ma túy, bất chấp những qui định của pháp luật, điều đó thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo, cần có một khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập cải tạo, từ bỏ con đường nghiện ngập mà phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo, tàng trữ 02 chất ma túy qua giám định có khối lượng 3,8579g ma túy ở thể rắn, loại MDMA và 14,9453g ma túy ở thể rắn, loại Ketamine. Do dó, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 để truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét bị cáo có nhân thân tốt bản thân chưa có tiền án tiền sự. Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội, tỏ ra ăn năn hối cải Hội đồng xét xử cũng cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm.C.H, và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh qua giám định là ma túy ở thể rắn, loại MDMA có khối lượng 3,8579g và 14,9453g ma túy ở thể rắn, loại Ketamine là vật nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng có số thuê bao 093120xxx8 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 túi giấy màu trắng có ghi chữ NĐ-Phạm.C.H. 01 túi giấy màu trắng có ghi chữ NĐ-Phạm.C.H bị cáo dùng để chứa ma tuý nên Hội đồng xét xử quyết định tịch tiêu huỷ.

Đối với người thanh niên tên N (không rõ lai lịch) đã bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bình Tân tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với anh L.K.T, do không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo H nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có cơ sở.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm.C.H 06(sáu) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2023.

Căn cứ Điều 46, điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm.C.H và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tịch thu tiêu huỷ 01 gói niêm phong bên trong có chứa ma túy đã qua giám định bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm.C.H và hình dấu Công an phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tịch thu tiêu huỷ 01 túi giấy màu trắng có ghi chữ NĐ-Phạm.C.H. 01 túi giấy màu trắng có ghi chữ NĐ-Phạm.C.H.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 có số thuê bao 093120xxx8.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số NK23/145TAM ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân)

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ