- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Mỹ D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Mỹ D1 và giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147/2023/HS-PT Ngày 31-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Bà Phạm Uyên Thy
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/TLPT-HS ngày 17 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Chu Mỹ D do có kháng cáo của bị cáo D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 16/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Chu Mỹ D, sinh ngày 01/5/1966 tại Thanh Hoá; Thường trú: 457/108 đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 106/24 H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V (chết) và bà Chu Lệ V1 (chết); Bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn T và có 02 con, lớn sinh năm 1986 (tên Chu Hoàng Mỹ T1 là bị cáo trong cùng vụ án), nhỏ sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 25/7/2022 - Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Chu Hoàng Mỹ T1, Đỗ Cao M, Dương Thanh L và Từ An H (tên gọi khác H1) không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 11 giờ 00, ngày 25/7/2022, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q, tuần tra đến trước nhà số C H, Phường A, Quận A thì phát hiện Nguyễn Thanh N đang điều khiển xe mô tô, hiệu Wave, biển số 59L1-66801 có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P, Quận A để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra thu giữ của Nguyễn Thanh N 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng. N khai là ma túy mua về để sử dụng, Công an P, Quận A lập biên bản tạm giữ, niêm phong số vật chứng và lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Thanh N khai nhận gói nylon chứa chất bột màu trắng bị tạm giữ nêu trên là ma túy loại heroin của N cất giữ để sử dụng. N mua của người phụ nữ tên Bé Ba tại trước cửa nhà số A H, Phường A, Quận A vào khoảng 10 giờ 55 phút ngày 25/7/2022 với giá 105.000 đồng. Ngoài ra, N còn khai nhận đã mua ma túy của tên Bé Ba tất cả được 04 lần, mỗi lần mua 01 gói ma túy loại heroine với giá 105.000 đồng, lần gần nhất là vào ngày 25/7/2022 như đã nêu trên.
- Lúc 11 giờ 15 phút ngày 25/7/2022, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q, tuần tra đến trước nhà số B H, Phường A, Quận A thì phát hiện Dương Thanh L đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 51N4-5284 chở Đỗ Cao M ngồi phía sau có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành mời về trụ sở Công an P, Quận A để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra trong người Đỗ Cao M 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng và 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu. M và L khai nhận chất bột và tinh thể không màu là ma túy, M và L cất giữ để sử dụng. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M và L và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Dương Thanh L và Đỗ Cao M khai nhận gói chất bột và tinh thể Công an thu giữ là ma túy của M và L cùng bàn bạc đi mua và cất giữ để sử dụng, cụ thể: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 25/7/2022, L và M đang ở nhà của L tại địa chỉ: D19/6A X, ấp D, xã T, huyện B, L hỏi “ còn hàng chơi không” (có nghĩa là anh L hỏi còn ma túy sử dụng không), M trả lời đã hết, L nói với M là L cũng hết rồi và hỏi M có đi lấy (mua ma túy) thì lấy cho L “một cái” (01 gói ma túy) phần của ai người đấy sử dụng, M đồng ý. Sau đó, L hỏi M “Em định mua bao nhiêu? còn tiền xài không” M trả lời mua 200.000 đồng ma túy đá vì còn dành tiền để chi phí sinh hoạt. Sau đó, L điều khiển xe môtô hiệu Honda Airblade có BKS: 51N4-5284 là xe của L chở M đi mua ma túy. Đi được một đoạn L đưa cho M 100.000 đồng để mua cho L 01 gói Heroin. Đến khoảng 11giờ 00 phút cùng ngày, L chở M đến hẻm S H, Phường A, Quận A thì L dừng xe đứng đợi cách nhà 1 H, Phường A, Quận A khoảng 20 mét còn M đi bộ đến căn nhà trên để mua ma túy. Sau khi mua ma túy xong, M cầm trên tay phải 02 (hai) gói ma túy mua được (gồm 01 gói ma túy loại heroine của L, 01 gói ma túy đá của M) rồi ngồi phía sau xe L chở về thì bị Công an bắt giữ. Ma túy của người nào người đó sử dụng, M và L không sử dụng ma túy chung. Về nguồn gốc số ma túy, M và L khai mua của một người phụ nữ tên Bé Ba tại trước nhà số A H, Phường A, Quận A khoảng 11 giờ 10 phút ngày 25/7/2022, trong đó gói heroin có giá 100.000 đồng còn gói ma túy methamphetamine có giá 200.000 đồng. M và L khai nhận ngoài lần mua ma túy trên, M và L còn cùng nhau mua ma túy của T1 vào ngày 23/7/2022 tại số nhà A H Phường A, Quận A và số lượng ma túy giống như ngày 25/7/2022.
- Lúc 11 giờ 30 phút, ngày 25/7/2022 Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q, tuần tra đến trước nhà H L, Phường A, Quận A thì phát hiện Từ An Họp đang điều khiển xe môtô nhãn hiệu Wave, biển số 67K1-36850 có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P, Quận A để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra thu giữ của Từ An Họp 03 (ba) gói nylon chứa chất bột màu trắng. Từ An H khai nhận chất bột màu trắng trên là ma túy Họp cất giữ để sử dụng. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Từ An H và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Từ A khai nhận 03 chất bột trong 03 gói nylon công an thu giữ là ma túy loại heroine của Họp cất giữ để sử dụng. Về nguồn gốc số ma túy Họp mua của một người phụ nữ tên Bé Ba trước cửa nhà số A H, Phường A Quận A vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/7/2022 với giá 315.000 đồng. Ngoài ra, H còn khai đã mua ma túy của Bé Ba tại nhà số A H Phường A Quận A được khoảng 02 tháng, mỗi ngày mua 02 lần, mỗi lần mua 01 gói ma túy với giá 105.000 đồng.
- Lúc 13 giờ 25 phút ngày 25/7/2022, tại trước nhà số A H Phường A Quận A, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma túy Công an Q bắt quả tang Chu Hoàng Mỹ T1 (tên gọi khác Bé B) đang thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thị Thùy L1. Tổ tuần tra thu giữ của Nguyễn Thị Thùy L1 có 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng, L1 khai nhận chất bột trên là ma túy loại heroine của L1 vừa mua được của T1. Đồng thời, thu giữ của Chu Hoàng Mỹ T1 số tiền 105.000 đồng, T1 khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho L1 mà có. Công an P1, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chu Hoàng Mỹ T1 và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Thị Thùy L1, khai nhận: Lúc 13 giờ 20 phút ngày 25/7/2022 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L1 đến nhà số A H Phường A Quận A gặp T1 hỏi mua 01 gói heroin. Tiên đồng ý và đưa cho L1 01 gói heroin, ngay khi L1 đưa cho T1 105.000 đồng và nhận gói ma túy từ T1 cất vào túi áo khoác thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Nguyễn Thị Thùy L1 khai nhận đã nhiều lần đến nhà số A H Phường A Quận A mua ma túy của T1 tuy nhiên không nhớ rõ số lần cụ thể. T1 khai số ma túy trên là T1 nhận từ mẹ của mình là Chu Mỹ D bán lại cho các con nghiện.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Hoàng Mỹ T1 tại nhà số A H, Phường A, Quận A thu giữ: 32 (ba mươi hai) gói nylon chứa chất bột màu trắng để trên ghế nhựa màu xanh tại tầng trệt căn nhà; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong có 02 (hai) gói nylon chứa chất bột màu trắng để trên thùng nhựa màu xanh trong góc trái cạnh cửa ra vào ở tầng trệt của căn nhà; 01 (một) túi nylon bên trong chứa 79 (bảy mươi chín) gói nylon chứa chất bột màu trắng để trong tủ sắt đặt tại phòng ngủ phía bên trái cầu thang ở tầng lửng của căn nhà.
Chu Hoàng Mỹ T1 và Chu Mỹ D khai nhận 32 (ba mươi hai) gói nylon chứa chất bột màu trắng và 02 (hai) gói nylon chứa chất bột màu trắng thu giữ trong vỏ bao thuốc hiệu Jet là ma túy do Chu Mỹ D đưa cho T1 để bán; 79 (bảy mươi chín) gói nylon chứa chất bột màu trắng thu giữ trong tủ sắt đặt tại phòng ngủ phía bên trái cầu thang ở tầng lửng là ma túy loại heroin của Chu Mỹ D cất giữ để bán kiếm lời. Công an P1, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Chu Hoàng Mỹ D1 và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Chu Mỹ D1 khai, để có tiền tiêu xài. Bắt đầu từ khoảng 02 tháng trước khi bị bắt, Chu Mỹ D1 sang khu vực phố đi bộ B2, Quận A, mua ma túy của nhiều đối tượng bán khác nhau (không rõ lai lịch, địa chỉ), mỗi lần mua 6.400.000 đồng heroin, sau đó phân chia thành 80 đến 85 gói nhỏ rồi giao cho T1 mỗi ngày 50 gói để T1 bán tại nhà số A H, Phường A, Quận A, với giá từ 80.000 đồng đến 110.000 đồng/gói, mỗi ngày D1 cho T1 400.000 đồng. Khoảng 20 giờ 00 ngày 24/7/2022, D1 mua ma túy của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 6.400.000 đồng và phân chia được 79 gói nhỏ sau đó cất trong tủ sắt, để bán cho các con nghiện. Sáng ngày 25/7/2022, Chu Mỹ D1 giao ma túy cho T1 để bán cho các con nghiện thì bị bắt giữ như trên. Tổng số tiền bị cáo D1 thu lợi bất chính từ bán trái phép chất ma túy khoảng 22.000.000 đồng, bị cáo D1 đã tiêu xài hết (bao gồm cả số tiền đã cho T1). Bị cáo D1 chỉ giao heroin cho bị cáo T1 bán, không biết việc bị cáo T1 mua ma túy loại methamphetamine và bán cho bị cáo Đỗ Cao M.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Chu Hoàng Mỹ T1 khai, phụ giúp Chu Mỹ D1 bán ma túy loại heroin như lời khai của bị cáo Chu Mỹ D1. Ngày 25/7/2022, T1 đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh N, Đỗ Cao M, Dương Thanh L, Từ An H và Nguyễn Thị Thùy L1 còn những lần trước Tiên không nhớ. Riêng đối với Đỗ Cao M, T1 đã bán ma túy cho M được 02 lần vào các ngày 23/7/2022 và ngày 25/7/2022, mỗi lần 01 gói heroin giá 100.000 đồng và 01 gói ma túy đá giá 200.000 đồng. Đối với gói ma túy loại Methamphetamine đã bán cho M vào các ngày 23/7/2022 và ngày 25/7/2022, T1 mua của đối tượng tên B1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) vào các ngày 22/7/2022 và ngày 25/7/2022 bên Quận E (không rõ địa điểm, địa chỉ) mỗi lần mua 01 gói giá 300.000đồng/gói để sử dụng và khi M hỏi mua thì T1 bán số còn lại cho M với giá 200.000 đồng. Tổng số tiền T1 thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy khoảng 12.000.000 đồng, T1 đã tiêu xài hết. Đối với 79 gói ma túy loại heroine thu giữ trên gác là của bị cáo D1, T1 không biết số ma túy trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của Nguyễn Thanh N, theo Kết luận giám định số 4278/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của Phòng K Công an Thành phố H: “Chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,0774 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của Từ An Họp, theo Kết luận giám định số 4279/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của Phòng K Công an T kết luận: “Chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2087 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của Nguyễn Thị Thùy L1, theo Kết luận giám định số 4280/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của Phòng K Công an T kết luận: “Chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0797 gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu trắng và tinh thể không màu đã thu giữ của Dương Thanh L và Đỗ Cao M, theo Kết luận giám định số 4281/KL-KTHS ngày 02/8/2022 của Phòng K Công an T, kết luận: “Chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0707gram, loại Heroine; Tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1935gram, loại Methamphetamine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của Chu Hoàng Mỹ T1, theo Kết luận giám định số 4285/KL-KTHS ngày 01/8/2022 của Phòng K Công an T kết luận: “Chất bột màu trắng chứa trong 32 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4519gram, loại Heroine; Chất bột màu trắng chứa trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1528gram, loại Heroine”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất bột màu trắng đã thu giữ của Chu Mỹ D1, theo Kết luận giám định số 4286/KL-KTHS ngày 01/8/2022 của Phòng K, Công an T kết luận: “Chất bột màu trắng chứa trong 79 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 6,3540gram, loại Heroine.
Tại Bản án số: 16/2023/HS-ST ngày 03-3-2023 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định: Tuyên bố bị cáo Chu Mỹ D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Chu Mỹ D1 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.
Ngoài ra Bản án còn tuyên phạt bị cáo Chu Hoàng Mỹ T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, các bị cáo Đỗ Cao M, Dương Thanh L, Từ A (H1) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 07/3/2023, bị cáo Chu Mỹ D1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Chu Mỹ D1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo là không phù hợp. Bởi, bị cáo D1 chỉ có hành vi cung cấp heroine cho T1 bán cho người nghiện, việc T1 bán Methamphetamine cho Đỗ Cao M, D1 không biết và không tham gia nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa phần điều luật áp dụng đối với bị cáo D1. Về mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả tội phạm mà bị cáo thực hiện. Do đó, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Bị cáo D1 không tự bào chữa và tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Chu Mỹ D1 về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 10, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Chu Mỹ D1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Căn cứ lời khai của bị cáo Chu Mỹ D1 tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Chu Mỹ D1 bắt đầu mua bán trái phép ma túy loại Heroine từ khoảng tháng 5/2022. Nguồn ma túy D1 mua của nhiều đối tượng không rõ lai lịch tại khu vực đường B, Quận A, với giá 6.400.000 đồng/mỗi lần. Số ma túy có được, D1 chia thành nhiều gói nhỏ cất giấu tại nhà 1 H, Phường A, Quận A và giao cho Chu Hoàng Mỹ T1 bán lại cho người nghiện với giá từ 80.000 đồng đến 110.000 đồng/gói để kiếm lời. Ngày 25/7/2022, T1 đã bán ma túy loại Heroine cho Nguyễn Thanh N, Dương Thanh L và Nguyễn Thị Thùy L1 nên ngoài khối lượng H2 khám xét, thu giữ tại chỗ ở của D1 và T1, Chu Mỹ D1 còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng Heroine thu giữ của N, L1, M và L. Tổng cộng là 9,4952gam ma túy loại Heroine. Do đó, Bản án hình sự số 16/2023/HS-ST ngày 03-3-2023 của Tòa án nhân dân Quận 10 đã áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Chu Mỹ D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đối với tình tiết “phạm tội đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phải được hiểu là trong cùng một lần phạm tội, người phạm tội đã mua bán trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên. Xét trong vụ án này, vào ngày 23 và ngày 25/7/2022, trong cùng một lần bị cáo Chu Hoàng Mỹ T1 đã bán 01 gói ma túy loại Heroine giá 100.000 đồng và 01 gói ma túy loại Methamphetamine giá 200.000 đồng cho Đỗ Cao M và Dương Thanh L. Trong đó, nguồn M1 được T1 khai nhận mua của một người tên B1 không rõ lai lịch vào các ngày 22 và 25/7/2022 và nguồn Heroine là của Chu Mỹ D1 giao cho bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của Đỗ Cao M, Dương Thanh L xác định loại ma túy mà M mua và sử dụng là Methamphetamine (ma túy đá) và loại ma túy L mua và sử dụng là Heroine. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Chu Mỹ D1 chỉ có hành vi đưa ma túy loại Heroine cho Chu Hoàng Mỹ T1 để bán cho Dương Thanh L (thông qua Đỗ Cao M), bị cáo không biết và không tham gia việc mua bán Methamphetamine của Chu Hoàng Mỹ T1 nên không đủ cơ sở quy buộc trách nhiệm đối với Chu Mỹ D1 về việc Chu Hoàng Mỹ T1 bán ma túy loại Methamphetamine cho Đỗ Cao M. Hành vi của Chu Mỹ D1 không thỏa mãn tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với 02 người trở lên”, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt đối với bị cáo D1 là chưa phù hợp. Tuy nhiên, sai sót này không làm thay đổi điều, khoản truy tố, xét xử đối với bị cáo Chu Mỹ D1 nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chỉ áp dụng lại pháp luật cho đúng nhưng cấp sơ thẩm cần nghiêm khắc rút kinh nghiệm.
Đối với mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Chu Mỹ D1 là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Chu Mỹ D1.
Đối với Nguyễn Thị Thùy L1, Nguyễn Thanh N, mặc dù có hành vi mua ma túy của Chu Hoàng Mỹ T1 để sử dụng nhưng khối lượng ma túy không đủ cấu thành của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cấp sơ thẩm không xử lý hình sự đối với L1 và Nghĩa là đúng.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Mỹ D1 và giữ nguyên Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Chu Mỹ D1 12 (mười hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2022.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận10; (2) - PV06 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - THADS Quận10; (1) - TAND Quận10; (2) - Công an Quận10; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |