- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N yêu cầu ly hôn anh H"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 147/2023/HNGĐ-ST Ngày 17 - 8 - 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Bé Thi.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Tý.
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh An Giang.
(Chị N, anh H có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Tại đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 03-4-2023 nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn H tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi chung sống thì hôn nhân của anh chị hạnh phúc được thời gian đầu nhưng đến thời gian sau đó thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống với nhau, thường xuyên cự cãi nhau; hôn nhân không còn hạnh phúc nên từ năm 2022 chị N và anh H đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn Tuấn A, sinh ngày 11-01-2012 và Trần Văn Tuấn E, sinh ngày 12-9-2018; hiện hai con chung đang sống với anh H. Sau khi ly hôn, chị N yêu cầu anh H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; chị không cấp dưỡng cho hai con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
- Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03-5-2023 bị đơn anh Trần Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N chung sống với nhau từ năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã. Từ năm 2022, chị N bỏ đi và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay anh đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Văn Tuấn A, sinh ngày 11-01-2012 và Trần Văn Tuấn E, sinh ngày 12-9-2018; hiện hai con chung đang sống với anh. Sau khi ly hôn, anh đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho hai con chung.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, chị N và anh H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa:
- Về tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, cho chị N ly hôn với anh H, giao 02 con chung tên Trần Văn Tuấn A, sinh ngày 11-01-2012 và Trần Văn Tuấn E, sinh ngày 12-9-2018 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; buộc chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ tại huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị N và anh H là hôn nhân hợp pháp, anh chị chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 18-4-2013. Trong quá trình chung sống, hôn nhân của anh chị không còn hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, thường xuyên cự cãi nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn, anh H đồng ý ly hôn với chị N. Xét thấy, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị N, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh H là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị N yêu cầu anh H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Trần Văn Tuấn A, sinh ngày 11-01-2012 và Trần Văn Tuấn E, sinh ngày 12-9-2018. Xét thấy, từ năm 2022 đến nay hai con chung sống chung với anh H và cũng theo nguyện vọng của cháu Tuấn A được sống với anh H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Cấp dưỡng cho con: Anh H không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho hai con chung, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Chị N, anh H thống nhất không có nợ chung.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH 14 của Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều: 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trần Văn H.
2. Về nuôi con chung: Anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Trần Văn Tuấn A, sinh ngày 11-01-2012 và Trần Văn Tuấn E, sinh ngày 12-9-2018. Hiện anh H đang nuôi hai con chung.
Chị Nguyễn Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011708 ngày 14-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xem như đã nộp xong án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị N, anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã Định Mỹ; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Thị Bé Thi |