- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147 /2022/HS-ST Ngày 21 – 11 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2022/TLST-HS, ngày 17 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Lưu Văn L, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1971, tại: Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm NL2, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Lưu Văn V (Đã chết); con bà: Ôn Thị H; Lưu Văn L không đăng ký kết hôn nhưng chung sống như vợ chồng với chị Diệp Thị H, sinh năm 1971 và có 05 con chung (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2005).
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/5/2022 đến ngày 01/6/2022 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
- Người chứng kiến:
1. Ông Ôn Đình T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Xóm NL1, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Hải L, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Xóm NL2, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/5/2022, tổ công tác Công an xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực bờ hồ Suối Lgg thuộc xóm NL2, xã TC thì phát hiện Lưu Văn L có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, L đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 03 (ba) đoạn ống hút bằng nhựa gồm: 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa mà xanh trên thân có sọc kẻ trắng được bịt kín hai đầu, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ trên thân có sọc kẻ trắng được bịt kín hai đầu, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được bịt kín hai đầu (bên trong mỗi đoạn ống nhựa phát hiện có chất rắn màu trắng đục). Theo L khai: Số chất rắn màu trắng đục là ma tuý, loại Heroine của L mua về để sử dụng. Tổ công tác Công an xã TC đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ số vật chứng trên, sau đó tiến hành bàn giao đối tượng Lưu Văn L và toàn bộ số vật chứng đã thu giữ của L cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân khối lượng toàn bộ số chất rắn màu trắng đục trong 03 đoạn ống hút bằng nhựa thu giữ của Lưu Văn L được 0,292 gam, sau đó cho toàn bộ vào phong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 736/KL-KTHS ngày 01/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng đục trong phong bì niêm phong ký hiệu G gửi giám định là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng của mẫu giám định là 0,292 gam.
Quá trình điều tra, Lưu Văn L khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 23/5/2022, L đi bộ từ nhà đến khu vực ngã ba gần cổng trường mầm non NL2 thuộc xóm NL2, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì gặp một người nam giới không quen biết và hỏi mua ma túy của người nam giới này. Sau đó L đưa cho người nam giới số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) thì người nam giới đưa lại cho L 03 (ba) đoạn ống hút bên trong đều có chứa chất rắn màu trắng đục là ma tuý. Sau khi mua ma tuý xong, L cất số ma tuý vào túi áo ngực bên trái và đi bộ lên bờ hồ Suối Lg để sử dụng. Khi lên đến nơi, L chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an xã TC kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong đựng vỏ bao mẫu niêm phong thu giữ khi bắt quả tang Lưu Văn L; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong có 0,272 gam Heroine của Lưu Văn L và vỏ bao mẫu còn lại sau giám định được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số: 149/CT-VKSPY, ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lưu Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số: 149/CT-VKSPY ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Văn L mức án từ 18 đến 24 tháng tù
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong đựng vỏ bao mẫu niêm phong thu giữ khi bắt quả tang Lưu Văn L; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong có 0,272 gam Heroine của Lưu Văn L và vỏ bao mẫu còn lại sau giám định.
Ngoài ra, còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lưu Văn L tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện chất ma túy nên vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/5/2022, tại khu vực gần bờ hồ Suối Lg thuộc xóm NL2, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Lưu Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,292 gam Heroine trong túi áo ngực bên trái đang mặc, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an xã TC phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do bị cáo Lưu Văn L thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, Bản cáo trạng số: 149/CT - VKSPY ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine,.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã sớm mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Qua phân tích các yếu tố về nhân thân người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Lưu Văn L sinh ra và lớn lên tại Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 7/12, sau đó nghỉ học ở nhà, lao động tự do tại địa phương. Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, do đó Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:
“…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản…”
Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
. Về vật chứng vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu K, bên trong đựng vỏ bao mẫu niêm phong thu giữ khi bắt quả tang Lưu Văn L; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu G, bên trong có 0,272 gam Heroine của Lưu Văn L và vỏ bao mẫu còn lại sau giám định - xác định là vật liên quan tới hành vi phạm tội, vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
. Về chi phí tố tụng: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
. Về các vấn đề khác của vụ án: Trong vụ án này Lưu Văn L còn khai về nguồn gốc số ma túy do L mua của một người nam giới không quen biết ở khu vực ngã ba gần trường mầm non NL2, xã TC, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Khi mua L không biết tên tuổi, địa chỉ của người này ở đâu, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng các Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
2.1 Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lưu Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/5/2022.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Lưu Văn L 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.
2.2 Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lưu Văn L.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu G ghi hoàn trả 0,272 gam mẫu còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu G; 01 (Một) bì niêm phong có dấu đỏ ký hiệu K ghi mẫu lưu kho.
Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 14/10/2022.
4. Về Án phí: Buộc bị cáo Lưu Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Văn L được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - Công an TP. Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |