vanban.org

Bản án 147/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Mê Linh, TP. Hà Nội Tuyên án 15/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M L
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147 /2020/HSST
Ngày: 15/12/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M L – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Diệu Kim Các hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Cử

- Bà Dương Thị Kim Lan

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên TAND huyện M L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M L tham gia phiên toà: Bà Phạm Thanh Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở UBND xã M L, huyện ML, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số 146/2020/HSST ngày 03 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Hoàng Long, sinh năm 1992. Nơi ĐKHKTT: Tổ 16, phường Ag, thành phố T, tỉnh T Q; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12 /12; Con ông: Vũ Đình T, sinh năm 1966 và bà Vũ Thị V, sinh năm 1970; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; Con có 01 con sinh năm 2016.

- Tiền án, tiền sự: 0

Nhân thân: Ngày 10/7/2018, bị Công an thành phố T Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 21 NĐ 167/2013 mức phạt 750.000đ, Vũ Hoàng L đã nộp phạt theo quy định.

- Bị cáo bị bắt từ ngày 12/9/2020 đến ngày 22/9/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ( có mặt).

Danh chỉ bản số 276 ngày 14/9/2020 tại Công an huyện M L

NỘI DUNG V N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Hoàng L, HKTT: Tổ 16, phường A, thành phố T Q, tỉnh T Q là đối tượng thường xuyên sử dụng ma túy. Tối ngày 12/9/2020, L mượn của anh Trần Văn L, HKTT: thôn Tr, xã T Vt, huyện M L, thành phố Hà Nội chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu đen không đeo biển kiểm soát để đi lại. Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, Long điều khiển chiếc xe máy trên đi từ nhà trọ đến khu vực thôn H, xã K, huyện Đ Hà Nội tìm mua ma túy. Tại đây, L sử dụng số điện thoại 0981621356 gọi vào số thuê bao 0987.133.668 của một người đàn ông không quen biết để hỏi mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp “đá”. Người đàn ông đồng ý rồi đi bộ ra chỗ L đang đứng bán cho L 01 bọc nilông ma túy tổng hợp “đá” với số tiền 200.000 đồng. L cầm ma túy trên tay rồi điều khiển xe máy đi về nhà để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường đê thuộc địa phận xóm 8, xã TV, huyện M L, thành phố Hà Nội thì L bị tổ tuần tra Đại đội 3, Tiểu đoàn CSCĐ số 4, trung đoàn CSCĐ – CATP Hà Nội kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang L đang tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, L vứt bọc nilon chứa ma túy xuống dưới đất và bị thu giữ. Tổ tuần tra đã bàn giao hồ sơ vụ việc và đối tượng cho Công an xã T V và Cơ quan điều tra – Công an huyện M L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 13/9/2020, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M L tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Hoàng L tại xóm 7, thôn T V, huyện ML, thành phố Hà Nội, kết quả: không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện M L, Vũ Hoàng L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

*Vật chứng thu giữ của Vũ Hoàng L gồm:

- 01 bọc nilông màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, bên trong lắp thẻ Sim só 0981621356;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu đen, không biển kiểm soát, số khung: RLHJA3905HY720137, số máy: JM39E0700303.

Tại kết luận giám định số 8287/KLGĐ-PC09 ngày 19/9/2020 của Ph ng KTHS

- Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 bọc nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,175 gam”. Quá trình giám định, Cơ quan giám định đã lấy 0,009 gam ma túy loại Methamphetamine làm mẫu giám định, phần c n lại 0,148 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong và hoàn trả Cơ quan điều tra để xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave α màu đen, không mang biển kiểm soát, số khung: RLHJA3905HY720137, số máy: JM39E0700303, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe máy trên, L mượn của Trần Văn L. Anh L khai: Chiếc xe máy anh L cho Vũ Hoàng L mượn là của một nam thanh niên không biết tên, tuổi và địa chỉ để lại ở quán Karaoke của L làm tin do thiếu tiền hát, nam thanh niên để lại xe hứa hẹn khi nào có tiền sẽ đến lấy lại xe và trả tiền ph ng hát (xe không có đăng ký và biển kiểm soát). Khi anh L cho L mượn xe để làm phương tiện đi lại, anh L không biết việc L sử dụng chiếc xe vào mục đích đi mua trái phép chất ma túy, nên không xem xét xử lý.

Bản kết luận giám định số: 10210/KLGĐ-PC09-Đ3 ngày 20/11/2020 của Ph ng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: ”Xe máy nhãn hiệu Honda Wave không đeo biển kiểm soát gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHJA3905HY720137, số máy: JA39E-0700303 là số nguyên thủy”. Tra cứu chiếc xe trên có BKS là: 36B6 - 664.37, đăng ký mang tên Trần Thị Th - SN: 15/6/1987, Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ xã M, huyện Nh, Th H. Chị Trần Thị Th khai nhận: Tháng 12/2018, chị Th đã bán chiếc xe máy trên cho một người nam thanh niên không biết tên, tuổi và địa chỉ, khi mua bán chỉ giao đăng ký và xe, không viết giấy tờ gì. Kết thúc quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện M L, Hà Nội tách chiếc xe máy trên ra để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nguồn gốc chủ sở hữu. Khi nào có đủ căn cứ sẽ đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật.

Toàn bộ số vật chứng c n lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện M L để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số điện thoại 0978133668 đây là số điện thoại Vũ Hoàng L liên lạc tới để mua ma tuý ngày 12/9/2020, quá trình điều tra xác định: chủ thuê bao mang tên Đỗ Bích Ng (SN: 26/12/1990, địa chỉ: xã Ph, huyện L, tỉnh B N). Xác minh tại xã Ph huyện L, tỉnh B N xác định không có người nào mang tên Đỗ Bích Ng có nhân thân, lai lịch như trên, nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông là đối tượng đã bán ma túy cho Vũ Hoàng L ngày 12/9/2020 tại khu vực thôn Hg, xã K, huyện Đ, Hà Nội, Quá trình điều tra: không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đã bán ma túy cho L nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 30/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo Vũ Hoàng Lg về tội “Tàng trữ trái phét chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Tại phiên t a bị cáo Vũ Hoàng L nhất trí với nội dung bản cáo trạng và khai nhận toàn bộ hành vi của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội đối với bị cáo giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Vũ Hoàng L từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a, không có ý kiến tranh luận gì khác. Bị cáo nói lời sau cùng: không đề nghị gì

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2]- Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo Vũ Hoàng L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng vụ án đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Hồi 23 giờ 30 phút ngày 12/9/2020, tại khu vực đường đê thuộc xóm 8, thôn Tr xã T V, huyện M Lh, thành phố Hà Nội, Vũ Hoàng L đang có hành vi tàng trữ 0,175 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị tổ tuần tra Đại đội 3, Tiểu đoàn CSCĐ số 4, trung đoàn CSCĐ – CATP Hà Nội phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cụ thể điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam

...”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an ninh trật tự và an toàn trong xã hội, xâm phạm đến việc độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Hiện nay tệ nạn nghiện hút chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy diễn ra rất phức tạp, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội, từ tệ nạn về ma túy là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, để phục vụ cho việc sử dụng ma túy của bản thân đã mua ma túy để sử dụng trái phép, vì vậy cần xử phạt nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và ph ng ngừa chung trong xã hội, do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: không. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên t a đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

[3]- Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy đã thu giữ; tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội.

[4]- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT Đ NH

Tuyên bố bị cáo Vũ Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

-Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Vũ Hoàng L 15 (Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 12/9/2020 đến ngày 22/9/2020.

- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ 0,148 gam ma túy loại Methamphetamine do Cơ quan giám định hoàn lại mẫu vật

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, số IMEI 1: 357743107523957, số IMEI 2: 357745100430155, bên trong máy lắp thẻ sim số 0981621356.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận giữa cơ quan điều tra và cơ quan Thi hành án huyện Mê Linh ngày 8/12/2020)

- Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí T a án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ