vanban.org

Bản án 147/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2020. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu D phạm tội tàng ttrữ trái phép chất ma túy; - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ D

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 147/2020/HS-ST
Ngày 08- 5- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ D TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Thúy Lan;

Bà Nguyễn Thị Thu Vân;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2020/HSST ngày 23 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 07/5/2001 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Ấp 3, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 08/3/2020, có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Lê Công H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 13/7/2019, tổ tuần tra Công an phường D tiến hành tuần tra trên địa bàn phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Khi tổ tuần tra đến trước văn phòng khu phố Đ, đường Phan Bội C, khu phố Đ,

-1-

phường D thì phát hiện Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô biển số 61C1-908.14 chở Huỳnh Hoài P có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu P và Đ dừng xe và kiểm tra, phát hiện tại túi quần sau bên trái của Nguyễn Hữu Đ có 01 bóp da màu đen, bên trong bóp da có 01 gói nylong hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, cả hai khai nhận là ma túy đá nên tiến hành lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ cùng vật chứng.

P và Đ khai nhận, khoảng 18 giờ ngày 12/7/2019, Đ nhắn tin nhờ P chở lên thăm chị gái tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương. P và Đ đến bệnh viện cả hai ra ghế đá của bệnh viện ngồi. Lúc P đi vệ sinh thì có 01 người phụ nữ (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) đến gặp Đ và bán cho được 01 gói ma túy giá 300.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, P chở Đ về phòng trọ, trên đường đi Đ nói với P vừa mua ma túy và rủ P hùn 150.000 đồng để sử dụng chung. P đưa cho Đ 150.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ Đ lấy một ít ma túy ra để P và Đ cùng sử dụng, phần còn lại Đ cất vào trong bóp da màu đen. Đến 02 giờ ngày 13/7/2019, Đ nhờ P đưa đến nhà chị tại phường B, thành phố D. Trên đường đi thì cả hai bị lực lượng Công an phường Dĩ An phát hiện kiểm tra, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 bóp da màu đen, 01 gói nylong hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô biển số 61C1-908.14.

Tại kết luận giám định số 542/MT-PC09 ngày 18/7/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương: mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2759 gam, loại Methamphetamine.

Ngày 30/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Huỳnh Hoài P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 29/8/2019 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do bị can Nguyễn Hữu Đ bỏ trốn trong thời được tại ngoại và bị bắt theo Lệnh truy nã ngày 08/3/2020.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Hữu Đ, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ khi nào xác minh được sẽ tiến hành xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô biển số 01 xe mô tô biển số 61C1-908.14 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định xe này do bà Lưu Ngọc C – sinh năm 1973, HKTT: 60/1A Khu phố Trung, phường Vĩnh Phú, thành phố T, tỉnh Bình Dương là mẹ ruột của Huỳnh Hoài P đứng tên đăng ký chủ sở hữu, đã trả lại cho bà Cho.

-2-

Đối với Huỳnh Hoài P, bị Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù theo Bản án số 351/2019/HSST ngày 29/10/2019.

Đối với vật chứng trong vụ án, gồm: 01 bóp da màu đen, 01 gói nylong chứa ma túy được đựng trong bì thư niêm phong ghi số vụ 542/MT-PC09 (0,1967 gam ma túy Methamphetamine) đã xử lý theo Bản án số 351/2019/HSST ngày 29/10/2019.

Tại cáo trạng số 154/CT–VKS ngày 23 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nội dung vụ án: Khoảng 02 giờ, ngày 13/7/2019, lực lượng Công an phường D tuần tra gần khu vực văn phòng khu phố Đ, đường Phan Bội C, khu phố Đ, phường D, thành phố D, phát hiện Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô biển số 61C1-908.14 chở Huỳnh Hoài P có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu P và Đ dừng xe và kiểm tra, phát hiện tại túi quần sau bên trái của Nguyễn Hữu Đ có 01 bóp da màu đen, bên trong bóp da có 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, cả hai khai nhận là ma túy đá và hùn 150.000 đồng để mua ma túy nên tiến hành lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ cùng vật chứng.

Căn cứ kết luận giám định số 542/MT-PC09 ngày 18/7/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương: mẫu tinh thể màu trắng

-3-

gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2759 gam, loại Methamphetamine. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 154/CT–VKS ngày 23 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo cùng đồng phạm Huỳnh Hoài P, sinh ngày 13/01/2001, tại thời điểm phạm tội P dưới 18 tuổi, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội, quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 bóp da màu đen, 01 gói nylong chứa ma túy được đựng trong bì thư niêm phong ghi số vụ 542/MT-PC09 (0,1967 gam ma túy Methamphetamine) đã xử lý tại bản án số 351/2019/HSST ngày 29/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố (thị xã cũ) Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Huỳnh Hoài P, bị Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù, theo Bản án số 351/2019/HSST ngày 29/10/2019.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Hữu Đ, do chưa xác định được lai lịch, địa chỉ khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

-4-

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/3/2020.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ