vanban.org

Bản án 147/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thúy H và anh Lê Quốc H1

Về con chung: Giao cháu Lê Quốc H2, sinh ngày 12/8/2014 cho anh H1 nuôi dưỡng và giao cháu Lê Quốc T, sinh ngày 27/01/2016 cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: anh H1, chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Nguyễn Thúy H - Lê Quốc H1"
  • Tòa quyết gì? Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thúy H và anh Lê Quốc H1
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 19-11-2019
V/v "tranh chấp ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diện

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Ánh Tuyết

2. Ông Trần Văn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ tham gia phiên toà:

Không tham gia

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 366/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 về việc "tranh chấp ly hôn, nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy H, sinh năm 1986

Hộ khẩu thường trú: số 67/6 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long

Chổ ở hiện nay: ấp D, xã E, huyện G, tỉnh Vĩnh Long

2/ Bị đơn: Anh Lê Quốc H1, sinh năm 1986 (xin vắng)

Địa chỉ: số 67/6 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 30/7/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thúy H trình bày: Chị và anh H1 trên cơ sở quen biết đi đến kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 27/5/2013. Sau khi kết hôn cuộc sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải nhau. Chị và anh H1 đã nhiều lần cố gắng khắc phục nhưng không được. Chị và anh H1 đã ly thân nhau từ tháng 01/2018 đến nay. Nay Chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lê Quốc H1

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Quốc H2, sinh ngày 12/8/2014 hiện đang do anh H1 nuôi dưỡng và Lê Quốc T, sinh ngày 27/01/2016 hiện do chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T và đồng ý giao cháu H2 cho anh H1 nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án anh Lê Quốc H1 vắng mặt, tại bản tự khai ngày 30/10/2019 anh H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị H

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Quốc H2, sinh ngày 12/8/2014 hiện đang do anh nuôi dưỡng và Lê Quốc T, sinh ngày 27/01/2016 hiện do chị H đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H2 và đồng ý giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng. Anh, chị không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết

Ngoài ra, anh yêu cầu Tòa án cho anh được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án

* Tại phiên toà hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thúy H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra không cung cấp chứng cứ gì thêm.

- Bị đơn anh Lê Quốc H1 xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, anh Lê Quốc H1 xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh H1.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và Anh H1 tiến đến hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của Chị H: Anh H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, anh H1 trình bày: Anh đồng ý ly hôn với chị H. Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh H1. Tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình quy định: “1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Xét hôn nhân của chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Quốc H2, sinh ngày 12/8/2014 hiện đang do anh H1 nuôi dưỡng và Lê Quốc T, sinh ngày 27/01/2016 hiện do chị H đang nuôi dưỡng. chị H yêu cầu nuôi dưỡng cháu T và đồng ý giao cháu H2 cho anh H1 nuôi dưỡng và nguyện vọng của anh H1 cũng xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2, giao cháu T cho chị H nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao cháu H2 cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh H1 không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Ngược lại người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết; về nợ chung: đương sự khai không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thúy H phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật, có trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thúy H và anh Lê Quốc H1

2. Về con chung: Giao cháu Lê Quốc H2, sinh ngày 12/8/2014 cho anh H1 nuôi dưỡng và giao cháu Lê Quốc T, sinh ngày 27/01/2016 cho chị H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: anh H1, chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Ngược lại người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: không đặt ra giải quyết; Về nợ chung: đương sự khai không có nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thúy H nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), tiền án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0005085 ngày 30/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ