vanban.org

Bản án 146/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đào Anh T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÀO ANH T - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2026/HS-ST
Ngày: 24-03-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Đẹp.

2. Ông Huỳnh Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 -Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Đào Anh T, sinh năm 1984; Giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Phú Thọ (Vĩnh Phúc cũ); CMND số: 135621398; Nơi thường trú: Không có nơi đăng ký thường trú; Nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú ổn đinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha Đào Văn T1, sinh năm 1952; Họ tên mẹ Doãn Thị L, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ tên Đoàn Ngọc Minh T2, sinh năm 1983 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Anh chị em ruột có 03 người kể cả bị cáo; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 29/9/2009 bị Công an phường A1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Năm 2012 bị Ủy ban nhân dân quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quyết định số 924/QĐ-UBND ngày 25/10/2012, chấp hành xong ngày 27/8/2014; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2025 tại Trại tạm giam C1 cho đến nay; Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 15 giờ 30 ngày 27/5/2025, Công an xã Đ kiểm tra hành chính nhà số D ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Đào Anh T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra người Đào Anh T phát hiện tại túi quần phía sau, bên trái loại quần quá đầu gối, chất liệu J (T đang mặc) có 01 gói giấy bên trong có chứa tinh thể (ký hiệu m). Quá trình làm việc Đào Anh T khai nhận gói giấy bên trong có chứa tinh thể là ma túy đá do T mua về để sử dụng một mình. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản niêm phong số tang vật trên và mời T về trụ sở để làm việc.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Anh T không phát hiện thu giữ gì.

Test nhanh ma túy đối với Đào Anh T cho kết quả dương tính.

Kết luận giám định số: 7443/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Phòng K Công an Thành phố H cho kết quả: Tinh thể ký hiệu m là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1545g, loại Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra, Đào Anh T khai nhận: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 26/5/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên T gọi điện thoại cho người đàn ông có tên thường gọi là “Bia” (chưa rõ lai lịch) sử dụng số điện thoại 0937262920 để hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng. “Bia” hẹn gặp T tại khu vực cầu T thuộc quận G để nhận ma túy. Sau khi có ma túy T đem về nhà cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 27/5/2025, T đang ở nhà tại địa chỉ số D ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an kiểm tra phát hiện như trên.

Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bên trong có chứa tinh thể (được niêm phong ghi số vụ 2363) và 01 Điện thoại di động loại Iphone XS màu vàng Gold (đã qua sử dụng).

Tại Bản cáo trạng số: 182/CT-VKSKV8 ngày 22 tháng 01 năm 2026 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đào Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Anh T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 2363.

+ Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động loại Iphone XS màu vàng Gold (đã qua sử dụng), IMEI: 35617209673551, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Công an Thành phố H, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Vào 15 giờ 10 phút ngày 27/5/2025, tại nhà số D ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã Đ, Thành phố Hồ Chí Minh), Đào Anh T đã có hành vi cất giấu 0,1545g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 7443/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Phòng K Công an Thành phố H), với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ ma túy có tác hại khó lường, rất nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình và cộng đồng, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương và khó khăn trong việc phòng chống tội phạm. Nhưng vì muốn đáp ứng nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Ngày 29/9/2009 bị Công an phường A1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và năm 2012 bị Ủy ban nhân dân quận A2, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở chữa bệnh theo quyết định số 924/QĐ-UBND ngày 25/10/2012

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo đang bị tạm giam và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với đối tượng tên “Bia” bán ma túy cho bị cáo: Do chưa rõ lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 2363.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động loại Iphone XS màu vàng Gold (đã qua sử dụng), IMEI: 35617209673551, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Đào Anh T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2025.

2/ Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tạm giam bị cáo Đào Anh T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3/ Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 2363.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động loại Iphone Xs màu vàng Gold (đã qua sử dụng), IMEI: 35617209673551.

(Vật chứng của vụ án hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 20/QĐ-VKS-HS ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/12/2025).

4/ Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí: Buộc bị cáo Đào Anh T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ