- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Thanh L - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 260 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 65 Bộ luật Hình sự Tuyên bố
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2026/HS-ST Ngày: 12-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Dung, bà Nguyễn Thị Ánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 156/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:
Ngô Thanh L, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại Lâm Đồng
Nơi cư trú: thôn L, xã T, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô T (đã chết) và bà Phạm Thị P (đã chết); có vợ tên Lê Thị H và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại thôn L, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Tống Thị Hoài K, sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường P, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tổ dân phố G, phường P, tỉnh Lâm Đồng).
- Đại diện bị hại: Bà Nguyễn Thị An T1, sinh năm 1978 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường P, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tổ dân phố G, phường P, tỉnh Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/01/2026, Ngô Thanh L điều khiển xe ô tô hiệu ISUZU, biển số 86C-136.26 do ông Trần Văn H1 đứng tên chủ sở hữu đang lưu thông theo hướng từ cầu T thuộc phường P đi phường T, tỉnh Lâm Đồng. Khi L điều khiển xe đi đến trước số nhà C đường T thuộc tổ dân phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng, là khu vực đông dân cư, có bà Tống Thị Hoài K đang đi bộ đẩy xe lăn cho bà Nguyễn Thị An H2 đang di chuyển từ phần đường bên phải qua phần đường bên trái (đã đi qua ½ phần đường bên phải) theo hướng di chuyển của L nhưng L đã thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn, dẫn đến phần đầu xe ô tô phía bên phải của L va chạm với tay nắm đẩy bên trái và bánh xe bên trái của chiếc xe lăn làm bà H2 cùng xe lăn và bà K té ngã xuống đường gây tai nạn giao thông. Hậu quả: bà H2 bị chấn thương sọ não và vùng ngực nên được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ, tỉnh Lâm Đồng sau đó tử vong, bà K bị gãy tay trái, chấn thương vùng trán và xây sát chân tay được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ1.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 17 giờ 40 phút ngày 14/11/2025 tại trước nhà số C đường T thuộc tổ dân phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng:
Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông là trước nhà số C đường T gần khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T và đường N thuộc tổ dân phố A, phường P, tỉnh Lâm Đồng. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng. Đường T có chiều rộng mặt đường là 14 mét được phân chia thành hai phần đường cho các phương tiện giao thông ngược chiều nhau bằng vạch kẻ đơn đứt nét và dải phân cách cứng. Phần đường theo hướng đường T đi cổng chữ Y có chiều rộng mặt đường là 7 mét. Đây là đoạn đường nằm trong khu vực đông dân cư.
Lấy hướng cầu T đi cổng chữ Y làm hướng chuẩn, lấy mép đường bên phải theo hướng chuẩn đã chọn làm mép đường chuẩn, lấy trụ nhà số C đường T nằm trong lề đường phải làm mốc cố định, mốc cố định cách mép đường chuẩn là 7 mét 80. Tiến hành xác định các vị trí sau:
(1) Xe ô tô biển số 86C-136.26.
(2) Xe lăn.
(3) Vùng mảnh vỡ là kích thước 1m50x1m20.
Tiến hành đo đạc các kích thước như sau:
Sau tai nạn xe ô tô dừng lại trên phần đường bên phải theo hướng chuẩn, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 5m55 (tâm trục bánh trước bên phải) cách tâm trục xe lăn là 5m75 cách mốc cố định là 14m36; tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 5m00.
Xe lăn bị lật ngang về bên trái, hai tay cầm xe lăn chếch vào mép đường chuẩn, hai bánh xe nhỏ của bánh xe lớn của xe lăn áp sát mặt đường, tâm trục cách bánh xe lớn của xe lăn áp sát mặt đường, tâm trục cách mép đường chuẩn là 3m50.
Vùng mảnh vỡ nằm trên phần đường phải theo hướng chuẩn, tâm vùng mảnh vỡ (3) cách mép đường chuẩn là 50cm. Cách trục bánh lớn xe lăn áp sát mặt đường là 7m80.
Biên bản khám nghiệm phương tiện vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 21/01/2026 ghi nhận trên xe ô tô biển số 86C-136.26 và xe lăn:
1. Xe ô tô biển số 86C-136.26
- Ốp nhựa đèn xi nhan trên phải bị vỡ kích thước (17x30) cm, cách mặt đất 70cm theo chiều hướng từ trước ra sau.
- Phần cán phía trước bên phải (dưới đèn vi phạm bên phải) màu đen có vết trượt xước nhựa kích thước (18x37) cm cách đất 45cm theo chiều hướng từ trước ra sau.
- Phần nắp cabin màu trắng phía trước bên phải bị bung hở, kích thước (02x52) cm theo chiều hướng từ trước ra sau cách đất 87cm.
2. Xe lăn
- Vết trượt xước cao su non tay cầm bên trái kích thước (01x10) cm, cách đầu 89cm theo chiều hướng từ trước ra sau.
- Vết trầy xước nhựa phần cản bên trái kích thước (01x02) cm, cách đất 71cm, theo hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên.
- Bánh xe lăn bên trái bị biến dạng (cong), bánh xe lăn có đường kính 55cm, theo chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải.
Tại Bản kết luận giám định số 277/KL-KTHS ngày 09/02/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận:
Tại thời điểm giám định xe ô tô biển số 86C-136.26.
1. Hệ thống lái thuộc lái có trợ lực lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, hệ thống lái hoạt động bình thường, đảm bảo chuyển hướng theo ý muốn của người điều khiển.
2. Hệ thống phanh chính thuộc loại phanh dầu có trợ lực lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng.
Hệ thống phanh tay (phanh đỗ) có các cụm chi tiết lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng. Hiện tại, hệ thống phanh chính và phanh đỗ hoạt động bình thường.
3. Các đèn chiếu sáng, đèn tín, đồng hồ báo hiệu, còi hoạt động bình thường.
4. Các hệ thống: động cơ, treo, ly hợp, hộp số, truyền lực các đăng, vi sai, bán trục, bàn đạp ga, cần số được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, hoạt động bình thường.
Cơ quan giám định không thực hiện giám định an toàn kỹ thuật đối với xe lăn.
Tại Bản kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 12/3/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận:
1. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 86C-136.26 và xe lăn:
Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 86C-136.26: trượt, hằn nhựa, bám dính chất màu đen mặt ngoài phía trên ốp đèn chiếu sáng trước bên phải, chiều từ trước ra sau, từ trái qua phải; trượt xước, hằn nhựa, mất chất màu xám, bám dính chất màu đen mặt ngoài cản trước bên phải, chiều từ trước ra sau, từ trái qua phải phù hợp với dấu vết va chạm trên xe lăn; trượt hằn cao su đầu tay nắm đẩy xe bên trái, chiều từ trái qua phải, trượt xước, cong vênh kim loại, bám dính chất màu xám mặt ngoài vòng đẩy bên trái, chiều từ trái qua phải; cong vênh vành, trượt, hằn mất bụi cao su lốp bánh xe bên trái, chiều từ trái qua phải.
2. Căn cứ vào các dấu vết, vật chứng để lại trong hồ sơ vụ tai nạn giao thông gửi giám định thì vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 86C-136.26 và xe lăn ở phần đường bên phải đường T, theo hướng từ cầu T đi hướng cổng chữ Y.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 26/KLGĐTT-PC09 ngày 19/01/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Thị An H2:
1. Các kết quả chính:
- Chấn thương sọ não.
- Chấn thương ngực kín.
- Xây sát bầm tụ máu dưới da vùng ngực trái, tay trái.
2. Kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị An H2: Đa chấn thương sọ não
- ngực.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 82B/KLTTCP ngày 12/02/2026 của Trung tâm Pháp y tỉnh L, kết luận thương tích đối với Tống Thị Hoài K:
1. Các kết quả chính
- Mảng thay đổi sắc tố da vùng trán thái dương phải.
- Xuất huyết khoang dưới nhện trong rãnh Sylvius trái, hiện không còn ổ tổn thương trên phim CT-Scaner.
- Sẹo đầu ngoài cung mày phải kích thước nhỏ.
- Gãy 1/3 trên xương trụ trái, can cẳng trục.
- Sẹo mặt trong 1/3 trên cẳng chân trái kích thước trung bình.
- Sẹo mặt trong 1/3 dưới cẳng chân trái kích thước trung bình.
2. Kết luận
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Tống Thị Hoài K tại thời điểm giám định là:
+ Mảng thay đổi sắc tố da vùng trán thái dương phải là 01% (một phần trăm).
+ Xuất huyết khoang dưới nhện trong rãnh Sylvius trái, hiện không còn ở tổn thương trên phim CT-Scanner là 08% (tám phần trăm).
+ Sẹo đầu ngoài cung mày phải kích thước nhỏ là 03% (ba phần trăm).
+ Gãy 1/3 trên xương trụ trái, can thẳng trục là 06% (sáu phần trăm).
+ Sẹo mặt trong 1/3 trên cẳng chân trái kích thước trung bình là 02% (hai phần trăm).
+ Sẹo mặt trong 1/3 dưới cẳng chân trái kích thước trung bình là 02% (hai phần trăm).
+ Chấn thương vùng trán trái hiện không còn dấu vết, do đó không có tỷ lệ tổn thương cơ thể.
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tống Thị Hoài K, tại thời điểm giám định là 20% (Hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Chấn thương sây sát vùng trán má phải: Do vật tày tác động, chiều hướng tác động từ trước ra sau, lực tác động mạnh.
+ Vết sẹo đầu ngoài cung mày phải: Do vật tày có cạnh tác động, chiều hướng tác động từ trước ra sau, lực tác động nhẹ.
+ Chấn thương sưng nề cẳng tay trái: Do vật tày tác động, chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, lực tác động mạnh.
+ Các vết trầy xước da cẳng chân trái: Do vật tày tác động, chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, lực tác động nhẹ.
+ Tại thời điểm giám định không xác định cố tật.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ từ Ngô Thanh L:
+ 01 chiếc xe ô tô biển số 86C-136.26.
+ 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới số 0143522, biển đăng kí 86C-136.26.
+ 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số đăng ký 86C-136.26, số AO22502506030869.
+ 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô biển số đăng ký 86C-136.26, số A022502506030868.
+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 028312, tên Trần Văn H1, biển số 86C-136.26.
+ 01 giấy phép lái xe số 790147016270 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp cho ngô Thanh Lâm ngày 14/10/2021.
+ 01 chiếc xe lăn.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe ô tô biển số 86C-136.26; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải số 028312; 01 chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới số 0143522; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số A022502506030869 và 02 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số AO22502506030869 và số A022502506030868, qúa trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Trần Văn H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông H1. Ông H1 đã nhận tài sản và không yêu cầu gì về dân sự.
- Đối với chiếc xe lăn của bị hại, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bà Nguyễn Thị An T1 là đại diện hợp pháp theo ủy quyền của gia đình bị hại.
- Đối với 01 giấy phép lái xe số 790147016270 ngày 14/10/2021 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp cho Ngô Thanh L được lưu cùng hồ sơ vụ án để phục vụ cho việc xét xử.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bà Nguyễn Thị An T1 yêu cầu Ngô Thanh L bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng. L đồng ý bồi thường, đại diện gia đình đã nhận đủ số tiền trên và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt đối với L.
- Bà Nguyễn Tống Thị Hoài K yêu cầu Ngô Thanh L bồi thường 6.000.000 đồng tiền chi phí điều trị tại bệnh viện. L đồng ý bồi thường, bà K đã nhận đủ số tiền và có đơn không yêu cầu xử lý hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt đối với L.
Tại Cáo trạng số 34A/CT-VKSLDG-KV ngày 10 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Ngô Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với mức án từ 15 (mười lăm) tháng đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) tháng đến 42 (bốn mươi hai) tháng;
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm;
- Tuyên trả lại Giấy phép lái xe số 790147016270 ngày 14/10/2021 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp cho Ngô Thanh L.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị hại và gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/01/2026, Ngô Thanh L điều khiển xe ô tô hiệu ISUZU, biển số 86C-136.26 lưu thông theo hướng cầu T thuộc phường P, tỉnh Lâm Đồng đi phường T, tỉnh Lâm Đồng. Khi đi đến trước số nhà C đường T thuộc phường P, tỉnh Lâm Đồng, là khu vực đông dân cư, L đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ dẫn đến đầu xe ô tô phía bên phải do L điều khiển đã va chạm vào phần tay nắm đẩy bên trái và bánh xe bên trái của xe lăn do bà Tống Thị Hoài K đang đẩy bà Nguyễn Thị An H2 đang lưu thông từ phần đường bên phải qua phần đường bên trái theo hướng đi của L gây tai nạn giao thông. Hậu quả: bà H2 bị thương đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ rồi tử vong, bà K bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng truy tố bị cáo Ngô Thanh L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo Ngô Thanh L có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ khi tham giao giao thông trên đường nhưng do thiếu chú ý quan sát, dẫn đến va chạm gây ra hậu quả một người chết, một người bị thương. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, gia đình bị hại và bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ và trực tiếp gây thiệt hại cho người khác. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Cho nên, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho UBND nơi thường trú giám sát, giáo dục là phù hợp.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng về mức áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là hợp lý.
Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bà Tống Thị Hoài K và gia đình của bà Nguyễn Thị An H2. Tại phiên tòa, bà Tống Thị Hoài K và bà Nguyễn Thị An T1 (là đại diện bị hại) không yêu cầu bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe số 790147016270 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/10/2021.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Ngô Thanh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xöû phaït bị cáo Ngô Thanh L 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, với thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Ngô Thanh L cho UBND xã T, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 01 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo Ngô Thanh L 01 Giấy phép lái xe số 790147016270 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/10/2021.
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ngô Thanh L có nghĩa vụ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/8/2026).
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - VKS nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - VKS nhân dân khu vực 10 – Lâm Đồng; - Cơ quan THADS; - Những người tham gia tố tụng; - Cơ quan cảnh sát điều tra; - Lưu: Hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Văn Hòa Lương Thị Mỹ Linh HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Bính Nguyễn Thị Viết Sáu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |