vanban.org

Bản án 146/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy b…

* Tuyên xử: Về hôn nhân: Bà Khưu Muổi L được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Khưu Muổi L - Nguyễn Hữu T"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy b…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 31/3/2026.
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Hồng Hải.

Ông Trần Huy Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Thành –Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên. Trong ngày 31/3/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 257/2025/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/01/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Khưu Muổi L; Sinh ngày 23/3/1994; CCCD số: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Khóm B, phường V, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T; Sinh ngày 21/6/1989; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện do bà K Muổi Lến lập ngày 23/10/2025 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa thì nguyên đơn bà Khưu Muổi L trình bày như sau: Bà Khưu Muổi L và ông Nguyễn Hữu T có tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2017, đến năm 2019 có đi đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/02/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi cho nên vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2022 đến nay.

Trong thời gian hôn nhân bà và ông T có một người con chung tên Nguyễn Khưu Phúc K1, sinh ngày 18/4/2019, hiện nay cháu K1 đang sống với bà. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Nay bà Khưu Muổi L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Bà Khưu Muổi L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.

- Về con chung: Bà Khưu Muổi L yêu cầu được nuôi con chung là Nguyễn Khưu Phúc K1, sinh ngày 18/4/2019 đến khi thành niên, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Khưu Muổi L xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Hữu T nhưng ông Nguyễn Hữu T không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Khưu Muổi L và không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa theo triệu tập.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 23/10/2025, bà Khưu Muổi L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Hữu T có nơi cư trú ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Khưu Muổi L đã được Toà án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Hữu T vắng mặt lần thứ hai không có lý do khi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Khưu Muổi L:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Khưu Muổi L và ông Nguyễn Hữu T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Nay là Ủy ban nhân dân xã T, Thành phố Cần Thơ) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/02/2019 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Khưu Muổi L và ông Nguyễn Hữu T là hợp pháp. Nhưng sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng ý kiến thường hay cãi nhau và mâu thuẫn kéo dài đến năm 2022 thì vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, vợ chồng cũng không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng và bà Khưu Muổi L làm đơn khởi kiện để xin ly hôn tại Tòa án. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên vợ chồng bà L, ông T đoàn tụ với nhau, tuy nhiên phía ông Nguyễn Hữu T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Như vậy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Khưu Muổi L, ông Nguyễn Hữu T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc bà Khưu Muổi L xin ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong thời gian sống chung bà K Muổi Lến và ông Nguyễn Hữu T có một người con chung là Nguyễn Khưu Phúc K1, sinh ngày 18/4/2019, bà Khưu Muổi L yêu cầu được nuôi con chung cho đến thành niên. Xét thấy, từ ngày bà L và ông T ly thân cho đến nay, người trực tiếp lo cho cháu K1 là bà Khưu Muổi L, bà L vẫn đảm bảo cuộc sống của cháu K1 và qua yêu cầu khởi kiện của bà L, ông T cũng không có ý kiến về việc nuôi con chung và để tránh cuộc sống của cháu K1 xáo trộn khi cha mẹ ly hôn nên cần ổn định cuộc sống hiện tại cho cháu. Do đó việc bà L yêu cầu được nuôi cháu K1 đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên của bà L. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Khưu Phúc K1, sinh ngày 18/4/2019 cho bà K Muổi Lến trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng: Bà Khưu Muổi L xác định đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu ông Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Tài sản chung: Bà Khưu Muổi L và ông Nguyễn Hữu T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà Khưu Muổi L xác định không có và các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a, d khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Khưu Muổi L chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Ông Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

* Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Bà Khưu Muổi L được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.

- Về con chung: Giao cho bà K Muổi Lến trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Khưu Muổi L và ông Nguyễn Hữu T là cháu Nguyễn Khưu Phúc K1, sinh ngày 18/4/2019 đến khi thành niên (hiện nay cháu K1 đang sống chung với bà L).

Ông Nguyễn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu K1 mà không ai được cản trở. Ông Nguyễn Hữu T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu K1 của bà Khưu Muổi L.

- Về cấp dưỡng: Bà Khưu Muổi L không có yêu cầu ông Nguyễn Hữu T cấp dưỡng, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung, nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Bà Khưu Muổi L chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008546, ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà Khưu Muổi L đã thực hiện xong.

+ Ông Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án cho đương sự.

Cỡ chữ