- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn Quang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI –––––––––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2025/HS-ST Ngày 25/06/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Xuyên.
2. Ông Nguyễn Duy Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 117/2025/TLST- HS ngày 11 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đàm Văn Q, sinh năm 1993 tại Thái Nguyên; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm CG, xã NH, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn C, sinh năm 1971 và con bà: Mai Thị V, sinh năm 1971; vợ: Đỗ Thị M (đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; tạm giam từ ngày 10/4/2025 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19h00 ngày 09/04/2025, Đàm Văn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 30M2 - 3087 từ nhà xuống thành phố Hà Nội làm việc. Khi đi đến khu vực thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Q gặp một nam giới (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở rìa đường quốc lộ 3, Q hỏi mua của người này 200.000 đồng ma túy loại Heroine để sử dụng, nam thanh niên nhận tiền và đưa cho Q 01 túi nilong bên trong chứa ma túy Heroine. Mua xong, Q giâu ma túy vào trong túi quần, phía sau bên trái rồi tiếp tục điều khiển xe xuống nơi làm việc. Khi đi đến khu vực PN, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an xã Minh Phú phối hợp với Công an xã Tân Minh kiểm tra, bắt giư người cùng tang vật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hà Nội tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Đàm Văn Q kết quả: Phản ứng dương tính với ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 2254/KL-KTHS ngày 19/04/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chât bột màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,261 gam.
Bản cáo trạng số: 103/CT-VKS ngày 04/06/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Đàm Văn Q về tội “Tàng trư trái phép chât ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai: Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2018. Tối ngày 09/04/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 30M2 - 3087 từ nhà xuống làm tại công trường ở khu vực Cầu Giây. Khi đi đến khu vực Phổ Yên, Thái Nguyên, bị cáo hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại Heroine của người nam giới lạ ở rìa đường, người này nhận tiền và đưa cho bị cáo 01 túi nilong bên trong chứa Heroine. Mua xong, bị cáo tiếp tục đi xuống Cầu Giây, Hà Nội. Khi đi đến khu vực PN, xã TG thì bắt giư. Xe mô tô biển kiểm soát 30M2 - 3087 là tài sản của ông Võ Văn K, bị cáo mượn để về nhà, ông K không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy. Bị cáo rât hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn luận tội:
Trên cơ sở đánh giá tính chât, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giư nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt: Đàm Văn Q mức án từ 24 đến 30 tháng tù về tội “Tàng trư trái phép chât ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/04/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chư ký của bị cáo và Giám định viên.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19h00 ngày 09/04/2025, tại khu vực thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Đàm Văn Q hỏi mua của một người đàn ông lạ 200.000 đồng được 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,261 gam. Mua xong, Q giâu ma túy vào túi quần phía sau bên trái rồi lên xe đi xuống thành phố Hà Nội. Khi Quang đi đến khu vực PN, xã TG, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thì bắt giư. Hành vi của Đàm Văn Q đã câu thành tội “Tàng trư trái phép chât ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như nêu trên là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chât ma túy, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh trật tự công cộng, ảnh hưởng xâu đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như tác động tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đâu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tính chât hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Về nhân thân: Tính đến lần phạm tội này, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thây, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và chính sách của Nhà nước về phòng chống chât ma túy nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và đâu tranh phòng ngừa chung.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo: Do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hà Nội điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với người phạm tội. Xét bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hà Nội chuyển theo hồ sơ 01 phong bì niêm phong ma túy có chư ký của bị cáo và Giám định viên. Xét ma túy là vật câm lưu hành trái phép nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda biển kiểm soát 30M2 - 3087, Cơ quan điều tra xác minh làm rõ: Chủ sở hưu xe mô tô này là anh Trần Văn X ở tổ dân phố số 6 ĐT, phường MĐ 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Năm 2017, anh X đã bán xe cho người đàn ông tên Q và ông Võ Văn K xác nhận đã mua lại xe của ông Hoàng Văn Q nhưng ông K không nhớ địa chỉ của ông Q. Tại kết quả tra cứu xe máy vật chứng ngày 29/4/2025 của Phòng Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Hà Nội thể hiện xe mô tô biển kiểm soát: 30M2-3087, số máy: JC43E5616661, số khung: RLHJC4328AY153390 không có trong cơ sở dư liệu xe máy vật chứng. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ông Võ Văn K đang là người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô nêu trên, ông K cho bị cáo mượn xe đi về nhà và không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội trả lại xe mô tô này cho ông Võ Văn K là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự và điểm a Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt Đàm Văn Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Tàng trư trái phép chât ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/04/2025.
2. Về xử lý vật chứng
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy có chư ký của Đàm Văn Q và Giám định viên (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/06/2025 giưa Công an thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Chi cục THADS huyện Sóc Sơn; - Công an thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - Trại tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội; - UBND xã xã Nam Hòa, Đồng Hỷ, Thái Nguyên; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hồng |