vanban.org

Bản án 146/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Võ Thanh T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Võ Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/6/2025. Xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Võ Thanh T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2025/HS-ST
Ngày: 11-11-2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Nữ Kiều Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Anh

Bà Trịnh Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tuyết Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 162/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

VÕ THANH T (tên gọi khác: B), sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng).

Nơi cư trú: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thanh L (sinh năm 1956) và bà Đinh Thị T (sinh năm 1956); Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 04/12/2020 bị UBND xã T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 04 tháng theo Quyết định số 388/QĐ-UBND, đã chấp hành xong ngày 04/3/2021.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực số 1 thuộc Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh Lâm Đồng, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 12/6/2025, Võ Thanh T dùng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 chứa sim số 0963680755 gọi điện cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, không nhớ số điện thoại) hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá để sử dụng thì người này đồng ý và hẹn T đến đường H gần nhà thờ R, thuộc phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để lấy ma túy.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T nói dối với Nguyễn Quốc T (sinh năm 2001, trú tại khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng) và nhờ T2 chở T đến nhà thờ R để lấy tiền nhưng thật ra là để T lấy ma túy, tin là thật nên T2 điều khiển xe môtô hiệu Wave, biển số 86H6-8195 chở T đến gần nhà thờ R, T nói T2 dừng xe rồi T đi bộ vào phía sau nhà thờ R, đến phía dưới 01 bụi cây lấy 01 gói ma túy đá đựng trong gói nylon không màu và để lại số tiền 500.000 đồng dưới bụi cây đó. T cầm gói ma túy đá trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ ra để T2 chở về nhà.

Khi chạy đến gần ngã ba R thuộc đường H thuộc khu phố 4, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố H4, phường M, tỉnh Lâm Đồng) thì bị Tổ tuần tra của Đồn Biên phòng M phối hợp với Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Thuận và Công an phường H kiểm tra, phát hiện trong lòng bàn tay phải của T có 01 túi nylon không màu, một đầu có khóa kéo viền đỏ, bên trong có chứa ma túy nên đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm việc. Tại đây, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. T khai số ma túy bị thu giữ T mua về để sử dụng, chứ không nhằm mục đích bán cho người khác.

Vật chứng của vụ án:

- Thu giữ từ Võ Thanh T:

+ 01 gói nylon không màu, một đầu có khóa kéo viền đỏ, kích thước (4,2x7,5) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, dạng rắn (ký hiệu M khi giám định).

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7.

- Thu giữ từ Nguyễn Quốc T: 01 xe môtô hiệu Wave 110, biển số 86H6 -

8195, số khung: RMKWCH4UM5K412926, số máy: LFPD1P50FMH7A014514.

Tại Kết luận giám định số 672 ngày 18/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 2,1329 gam là Methamphetamine.

Xử lý vật chứng:

01 túi nylon không màu, một đầu có khóa kéo viền đỏ, kích thước (4,2 x 7,5) cm; 2,0172 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 672; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7. VKSND Khu vực 10 - Lâm Đồng ra Quyết định chuyển đến Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 10 - Lâm Đồng để bảo quản, chờ xử lý.

Đối với xe môtô hiệu Wave 110, biển số 86H6-8195, có số khung: RMKWCH4UM5K412926, số máy VLFPD1P50FMH7A014514 thu giữ của Nguyễn Quốc T là xe do Nguyễn Trúc L (sinh năm 1993, trú tại khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng) là anh của T2 mua tại một tiệm cầm đồ (không nhớ địa chỉ) ở thành phố P với giá 2.500.000 đồng vào năm 2019 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Tuy nhiên, qua xác minh thì biển số 86H6-8195 được cấp cho xe môtô hiệu XINHA do Đồng Thị Thúy N (sinh năm 1987, trú tại xã H, tỉnh Lâm Đồng) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2018 -2019, chị N đã bán xe trên cho 01 tiệm cầm đồ tại T2 phố P (không nhớ địa chỉ) với giá 2.000.000 đồng. Riêng xe môtô có số khung RMKWCH4UM5K412926, số máy VLFPD1P50FMH7A014514 thì không có trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

Tại bản Cáo tR số 58/CT-VKS-HS ngày 18/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng quyết định, truy tố bị cáo Võ Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng phát biểu ý kiến như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Võ Thanh T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Võ Thanh T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 túi nylon không màu, một đầu có khóa kéo viền đỏ, kích thước (4,2 x 7,5) cm; 2,0172 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 672. Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 thu giữ của Võ Thanh T.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T, do không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Nguyễn Quốc T không biết T nhờ chở T đi mua ma túy và cũng không biết T cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không xử lý T2 là có căn cứ.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh T xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng và không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Võ Thanh T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Võ Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 19 giờ 05 phút ngày 12/6/2025, tại khu vực ngã ba R đường H thuộc khu phố 4, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (nay là khu phố H4, phường M, tỉnh Lâm Đồng). Võ Thanh T có hành vi cất giữ trái phép 2,1329 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại nguy hiểm của ma túy đối với người sử dụng và nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy là trái pháp luật nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã mua ma túy để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đủ dấu hiệu cấu T2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Lâm Đồng đã truy tố đối với bị cáo Võ Thanh T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3 Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm phức tạp tình hình an ninh trật tự ở địa phương, là nguyên nhân gián tiếp làm gia tăng nhiều tệ nạn xã hội và mầm móng phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

[4 Về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo

không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã T2 khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5 Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 túi nylon không màu, một đầu có khóa kéo viền đỏ, kích thước

(4,2 x 7,5) cm là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 2,0172 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 672, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu trắng xám thu giữ của Võ Thanh T, quá trình điều tra xác định được đây là tài sản cá nhân của T, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với xe môtô hiệu Wave 110, biển số 86H6-8195, có số khung: RMKWCH4UM5K412926, số máy VLFPD1P50FMH7A014514 thu giữ của Nguyễn Quốc T là xe do Nguyễn Trúc L (sinh năm 1993, trú tại khu phố T, phường M, tỉnh Lâm Đồng), là anh của T2 mua tại một tiệm cầm đồ (không nhớ địa chỉ) ở thành phố P với giá 2.500.000 đồng vào năm 2019 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Tuy nhiên, qua xác minh thì biển số 86H6-8195 được cấp cho xe môtô hiệu XINHA do Đồng Thị Thúy N (sinh năm 1987, trú tại xã H, tỉnh Lâm Đồng) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2018 -2019, Chị N đã bán xe trên cho 01 tiệm cầm đồ tại thành phố P (không nhớ địa chỉ) với giá 2.000.000 đồng. Riêng xe môtô có số khung RMKWCH4UM5K412926, số máy VLFPD1P50FMH7A014514 thì không có trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.

Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T, do không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Quốc T không biết T nhờ chở T đi mua ma túy và cũng không biết T cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không xử lý T2 là có căn cứ.

[7 Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Võ Thanh T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Võ Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/6/2025.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 túi nylon không màu, một đầu có khóa kéo viền đỏ, kích thước (4,2 x 7,5) cm; 2,0172 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 672, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.

- Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 màu trắng xám.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng và Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 10 - Lâm Đồng).

3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/11/2025)./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Nữ Kiều Mỹ Trịnh Thị Tuyết

Lê Thị Phƣơng Anh

Cỡ chữ