- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê T Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lê T Ch 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 146/2024/HS-ST Ngày 27 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Hiêng và bà Tạ Thị Mùa
- Thư ký phiên tòa: Bà Thào Thị Thu Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2024/HSST, ngày 06 tháng 6 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê T Ch (Không có tên gọi khác) - Sinh năm 1979; Nơi sinh: tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Tổ dân phố 6, phường N L, thị xã M L, tỉnh Đ; Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố 16, phường H L, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đăng K (đã chết) và con bà Nguyễn Thị M; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/10/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 21/3/2005 chấp hành xong toàn bộ bản án. Ngày 04/9/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 28/10/2016 chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 10/3/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 10/3/2024, C một mình đạp xe từ phòng trọ thuộc tổ dân phố 16, phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ đến Cảng hàng không Điện Biên để làm việc. Khi đi đến khu vực gần vòng xuyến thuộc tổ 10, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, C gặp và mua được từ một người đàn ông không quen biết một gói ma túy với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy C cầm trong lòng bàn tay phải và điều khiển xe đạp đi tiếp. Đến hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày khi C đang di chuyển trên đường Quốc lộ 12, thuộc khu vực tổ 10, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ thì bị tổ công tác Công an thành phố Điện Biên Phủ, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng và phương tiện.
Vật chứng thu giữ gồm: 0,26 gam Heroine, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 chiếc xe nhãn hiệu Asama, màu bạc đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 542/KL-KTHS ngày 16/3/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng: 0,26 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, túy STT: 9, mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,17 gam Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 92/CT-VKSTPĐBP ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Lê T Chvề tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS: Xử phạt bị cáo Lê T Ch từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Asama, màu bạc đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý, biên bản giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 10/3/2024 tại khu vực tổ 10, phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ bị cáo C đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,26 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"
Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ của bị cáo được Nhà nước tặng Huân chương kháng C chống Mỹ cứu nước hạng Ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS.
Nhân thân: Ngày 18/10/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 21/3/2005 chấp hành xong toàn bộ bản án. Ngày 04/9/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 28/10/2016 chấp hành xong toàn bộ bản án. Mặc dù các bản án trên đã được xóa án tích, nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.
. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù phù hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cho bị cáo có thời gian cai nghiện để trở thành công dân tốt, có ý thức tuân thủ pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi hành.
. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, xét thấy vật chứng và tài sản liên quan đến hành vi tội phạm của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy hoặc sung ngân sách Nhà nước gồm có: 0,17 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Asama, màu bạc đã qua sử dụng (do bị cáo dùng vào việc phạm tội).
. Các vấn đề khác: Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không quen biết nên không có cơ sở điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Lê T Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lê T Ch 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (10/3/2024).
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam Heroine còn lại sau khi giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Asama, màu bạc (xe đã qua sử dụng).
(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/6/2024);
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2024). Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
Trần Thị Thương Huyền
- Chi cục THADS TP ĐBP;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP.
THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
- Chi cục THADS TP ĐBP;
Trần Thị Thương Huyền
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSNDTPĐBP;
- VKSND tỉnh ĐB;
- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP
- Cơ quan THAHS TP ĐBP;
- TAND tỉnh Điện Biên;
- Trại tạm giam;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;
Trần Thị Thương Huyền
- Chi cục THADS TP ĐBP;
- HS THAHS;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP. THÀNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Thị Thương Huyền
| Nơi nhận: -Bị cáo; - VKSNDTPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP - Cơ quan THAHS TP ĐBP; - TAND tỉnh Điện Biên; - Trại tạm giam; - Sở Tư pháp tỉnh ĐB; - Chi cục THADS TP ĐBP; - HS THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thương Huyền |