- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Ngọc D 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 146/2024/HS-ST Ngày: 13-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
2. Ông Trần Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Tường Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng – Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án - trụ sở Tòa án nhân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 177/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Thị Kim L, tên gọi khác: Không;
Sinh năm 1992, tại Thành phố Hồ Chí Minh
Hộ khẩu thường trú: Nhà số 69/37 đường L, Phường T, quận G, Thành phố H; Chổ ở hiện nay: Nhà số 69/37 đường L, Phường T, quận G, Thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh Quan (chết) và bà Phan Thị Hoa (chết); Chồng, con: không có; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình.
Nhân thân:
- Từ nhỏ đến nay: Sống cùng gia đình tại nhà số 69/37 đường L, Phường T, quận G, Thành phố H
Tiền sự, Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/12/2023
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Dương Ngọc D, tên gọi khác: không;
Sinh năm: 1985, tại Thành phố Hồ Chí Minh
Hộ khẩu thường trú: Nhà số S, đường M, Phường T, Quận T, Thành phố H; Chỗ ở hiện nay: Nhà số 368/37/10E đường Đ, Phường T, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Bá Ngọc và bà Nguyễn Thị Em; chồng con: không có; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình.
Nhân thân:
- Từ nhỏ đến tháng 10/2023: Sống cùng gia đình tại nhà số S đường số M, Phường T, Quận T, Thành phố H
- Từ tháng 10/2023 đến nay: Chuyển đến ở tại nhà số 368/37/10E đường Đ, Phường T, Quận T, Thành phố H
- Ngày 22/4/2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 7 tháng 7 ngày tù (bằng thời gian tạm giam), về tội Không tố giác tội phạm (bản án số 317/HSST). Đã nộp 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Ngày 24/8/2015, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức), Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng tại Trung tâm Giáo dục – Lao động – Xã hội Phú Nghĩa, Sở lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định số 201/2015/QĐHC-ST). Chấp hành xong ngày 09/3/2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/12/2023.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3.Những người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Bích Th -vắng mặt
Địa chỉ: 232/37/10 Đoàn Văn B, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Kim L và Dương Ngọc D hoạt động mua bán ma túy từ đầu tháng 12/2023, thông qua bạn bè ngoài xã hội, L biết được D sử dụng số điện thoại 0932.062.285 có bán ma túy, L mua ma túy của D về để bán lại cho khách kiếm lời. L đã mua ma túy của D được 05 lần vào các ngày 20/12/2023, ngày 22/12/2023, ngày 23/12/2023, ngày 27/12/2023, mỗi lần đều mua “hộp 5 ma túy đá” (05 gam) với giá 2.300.000 đồng, riêng ngày 25/12/2023, D chỉ bán giá 2.100.000 đồng. Các lần L mua ma túy, D sẽ hẹn L đến khu vực đường Vĩnh Hội, Quận 4 để giao ma túy, L thanh toán tiền mua ma túy bằng cách chuyển tiền vào ví Momo số 0932.062.285 của D. Sau khi mua ma túy của D, L chia ma túy ra từng gói nhỏ để bán lẻ cho khách với giá từ 150.000 đồng đến 500.000 đồng. Khách mua ma túy liên lạc với L qua số điện thoại 0909.677.684 hoặc Zalo tên “Tran Kim Long” và trả bằng tiền mặt.
Khoảng 15 giờ 18 phút ngày 29/12/2023, có khách tên Nghĩa (không rõ lai lịch) sử dụng Zalo tên “A Nghia” gọi cho L qua Zalo hỏi mua một gói ma túy đá giá 400.000 đồng. L lấy mảnh giấy quấn 01 gói ma túy đá rồi bỏ vào gói nylon sau đó bỏ vào trong túi áo khoác bên trái của L đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển số 59V3-266.02 đi từ quận Gò Vấp sang quận Bình Thạnh để giao cho Nghĩa thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ 01 gói nylon đựng 01 mảnh giấy quấn 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, L khai nhận là ma túy đá mang đi bán cho Nghĩa với giá 400.000 đồng. L khai số ma túy trên mua của D nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh tiến hành truy xét D. Qua truy xét, lúc 17 giờ 20 phút ngày 29/12/2023, tại trước nhà số 78 đường Vĩnh Hội, Phường 4, Quận 4, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình Thạnh phối hợp Công an Phường 04, Quận 4 tiến hành kiểm tra hành chính Dương Ngọc D, phát hiện tại móc treo giữa xe mô tô biển số 59X3-114.21 có một túi nylon màu vàng, bên trong có 01 hộp giấy đựng: 01 đế để điện thoại di động và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. D khai nhận 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy mang đi giao cho khách với giá 1.200.000 đồng. Công an tiến hành thu giữ, niêm phong và lập hồ sơ xử lý.
L đã bán ma túy cho nhiều khách, trong đó bán cho Nghĩa 03 lần (lần 01 bán 200.000 đồng, lần 02 bán 400.000 đồng, lần 03 thì bị bắt như đã nêu trên); bán cho khách tên Chuột (không rõ lai lịch, L lưu trong danh bạ là “A Chuot B A Phat”) 02 lần (lần 01 bán 150.000 đồng, lần 02 bán 200.000 đồng); bán cho khách tên Bin (không rõ lai lịch, L lưu trong danh bạ là “Bin Map Q12”) 04 lần (mỗi lần 200.000 đồng). L giao ma túy đến địa chỉ khách yêu cầu và nhận tiền mặt. Số tiền L thu lợi từ việc bán ma túy khoảng 2.500.000 đồng và đã tiêu xài hết.
Thông qua bạn bè ngoài xã hội, D biết được người đàn ông (không biết tên, không rõ lai lịch) ở Quận 6 sử dụng số điện thoại 0777.212.320 có bán ma túy, D liên lạc mua ma túy của người đàn ông trên về bán lại cho khách để hưởng tiền chênh lệnh. Mỗi lần D mua một gói ma túy giá từ 1.000.000 đồng (2,5g ma túy đá) đến 2.000.000 đồng (05g ma túy đá), sau đó về bán lại cho khách giá 1.200.000 đồng đến 2.300.000 đồng. D đã mua ma túy của người đàn ông ở Quận 6 được 08 lần, mỗi lần đều liên lạc qua điện thoại, sau đó người đàn ông trên sẽ đặt shipper hoặc cho người đến gần hẻm nhà D giao ma túy, D nhận ma túy và trả bằng tiền mặt.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, D liên lạc với người đàn ông ở Quận 6 để hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá, người này đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại trước nhà số 78 đường Vĩnh Hội, Phường 04, Quận 4. Sau đó, D điều khiển xe mô tô biển số 59X3-114.21 ra điểm hẹn gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) nhận 01 một túi nylon màu vàng, bên trong có 01 hộp giấy đựng: 01 đế để điện thoại di động và 01 gói nylon chứa 2,5g ma túy đá, D trả 1.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó, D đứng đợi để giao số ma túy vừa lấy cho khách với giá 1.200.000 đồng nhưng chưa kịp giao thì bị Công an kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên. Khách mua ma túy của D do bạn bè giới thiệu. Đối với L thì D đã bán ma túy cho L được 05 lần như lời khai của L đã nêu ở trên.
Kết luận giám định số 677/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (thu giữ của L) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3787g, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 678/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (thu giữ của D) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4900g, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 170/CT-VKSBTh ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, đã truy tố bị can Trần Thị Kim L và Dương Ngọc D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
2. Tại phiên tòa,
Bị cáo Dương Ngọc D và Trần Thị Kim L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Các bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bị cáo Dương Ngọc D và Trần Thị Kim L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”:
Bị cáo Trần Thị Kim L phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình có đơn xác nhận bị cáo Trần Thị Kim L và gia đình có hoàn cảnh khó khăn được Ủy ban nhân dân Phường 04, quận Gò Vấp xác nhận, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo Dương Ngọc D có nhân thân xấu. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
-Về Hình phạt:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với vật chứng thu giữ của Trần Thị Kim L:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon đựng 01 mảnh giấy quấn 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3787g, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,3408g
+ Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone màu vàng, sim số 0909.677.684. Kiểm tra điện thoại ghi nhận nhiều tin nhắn zalo liên quan đến hoạt động mua bán ma túy của L, đồng thời ghi nhận L đã 05 lần chuyển tiền mua ma túy cho D.
- 01 xe gắn máy biển số 59V3-266.02. Số khung: RLHJF5832KZ620555, số máy: JF86E5086249. Kết quả xác minh xe do chị Trần Thị Như Phượng (sinh năm 1990; thường trú: Nhà số 69/37 đường Lý Thường Kiệt, Phường 4, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. L khai mượn xe trên của chị ruột tên là Trần Thị Như Phượng để đi công việc, sau đó sử dụng để đi giao ma túy. Xét tài sản hợp pháp của chị Phượng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chị Phượng.
- Đối với vật chứng thu giữ của Dương Ngọc D:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 túi nylon màu vàng, bên trong có 01 hộp giấy đựng: 01 đế để điện thoại di động và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4900g, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 2,3947g
+ Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu đen, sim số 0932062285, là phương tiện sử dụng để liên lạc mua bán ma túy
+ 01 xe gắn máy biển số 59X3-114.21. Số khung: RLHJF5819GY189787, số máy: JF66E0189841. Kết quả xác minh xe do bà Vũ Thị Tuyết Vân (sinh năm 1974, thường trú: Nhà số 4A/1 Đường số 20, khu phố 7, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2018, bà Vân đã bán xe trên cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) có làm hợp đồng bán xe nhưng không còn giữ. D khai mượn xe trên của bà Nguyễn Thị Bích Thủy (sinh năm 1951, thường trú: 232/37/10 đường Đoàn Văn Bơ, Phường 10, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh) để đi công việc, sau đó sử dụng để hoạt động mua bán ma túy. Bà Thủy khai xe trên là tài sản của con trai bà tên Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1975, thường trú: Nhà số 232/37/10 đường Đoàn Văn Bơ, Phường 10, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh), ông Tuấn mua xe lại có hợp đồng mua bán, ông Tuấn đã chết vào ngày 25/8/2023, xét thấy xe trên hiện nay do bà Thủy quản lý, sử dụng hợp pháp, nên trả lại cho bà Thủy.
+ Về thu lợi bất chính:
- Bị cáo Trần Thị Kim L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.500.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Dương Ngọc D phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
+ Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định.
3. Phần Tranh luận
- Các bị cáo không tham gia tranh luận
4. Trong lời nói sau cùng,
Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về tố tụng:
Về sự vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về tội danh:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của 02 bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi bị cáo tại phiên tòa: 02 bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố đối với 02 bị cáo. Căn cứ vào lời khai nhận tội của 02 bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của 02 bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:
Trần Thị Kim L và Dương Ngọc D hoạt động mua bán ma túy từ đầu tháng 12/2023. L đã mua ma túy của D được 05 lần vào các ngày 20/12/2023, ngày 22/12/2023, ngày 23/12/2023, ngày 25/12/2023, ngày 27/12/2023. Sau khi mua ma túy của D, L chia ma túy ra từng gói nhỏ để bán lẻ cho khách với giá từ 150.000 đồng đến 500.000 đồng để kiếm lời. Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 29/12/2023, L điều khiển xe mô tô biển số 59V3-266.02 đi từ quận Gò Vấp sang quận Bình Thạnh, đem theo 01 gói nylon đựng 01 mảnh giấy quấn 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3787g, loại Methamphetamine đi bán cho người đàn ông tên Nghĩa (không rõ lai lịch), khi đến trước nhà số 304/60 đường Bùi Đình Túy, Phường 12, quận Bình Thạnh thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang thu giữ.
Nguồn gốc ma túy L mua của D, tiến hành truy xét, lúc 17 giờ 20 phút ngày 29/12/2023, tại trước nhà số 78 đường Vĩnh Hội, Phường 4, Quận 4, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Bình Thạnh phối hợp Công an Phường 4, Quận 4 kiểm tra hành chính, bắt quả tang D cất giấu 01 gói nylon chứa ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4900g, loại Methamphetamine đi bán cho khách (không rõ lai lịch).
Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo Trần Thị Kim L và Dương Ngọc D, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh truy tố bị cáo Trần Thị Kim L và bị cáo Dương Ngọc D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở pháp lý, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hiệm hình sự:
Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Bị cáo Trần Thị Kim L và Dương Ngọc D là người đã thành niên, đủ khả năng nhận thức ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng sẽ bị hủy hoại cả thể chất lẫn tinh thần, nhưng các bị cáo muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính nên vẫn bất chấp mua ma túy về bán lại để hưởng lợi. Bị cáo L đã mua ma túy của bị cáo D 05 lần vào các ngày 20/12/2023, ngày 22/12/2023, ngày 23/12/2023, ngày 25/12/2023, ngày 27/12/2023. Sau khi mua ma túy của bị cáo D, bị cáo L chia ma túy ra từng gói nhỏ để bán lẻ cho người đàn ông tên Nghĩa (không rõ lai lịch), Chuột (không rõ lai lịch), Bin (không rõ lai lịch) để kiếm lời. Bị cáo D đã có hành vi mua ma túy từ người đàn ông (không biết tên, không rõ lai lịch) ở Quận 6 về bán lại cho khách để hưởng tiền chênh lệch. Vì vậy, bị cáo Trần Thị Kim L và Dương Ngọc D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đây là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của 02 bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, không những gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, đến sức khỏe của con người, làm lây lan tệ nạn nghiệp ngập ma túy trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống các tội phạm về ma túy và các tệ nạn khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly 02 bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục 02 bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, chấp hành pháp luật, đồng thời giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:
- Bị cáo Trần Thị Kim L có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Bị cáo Dương Ngọc D có nhân thân xấu. Cả 02 bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Kim L và bị cáo Dương Ngọc D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, gia đình bị cáo Trần Thị Kim L có đơn xác nhận bị cáo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn được Ủy ban nhân dân Phường 04, quận Gò Vấp xác nhận, nên bị cáo Trần Thị Kim L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy 02 bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với 02 bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
- Đối với vật chứng của Trần Thị Kim L:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon đựng 01 mảnh giấy quấn 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3787g, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 0,3408g
+ 01 điện thoại Iphone màu vàng, sim số 0909.677.684. Kiểm tra điện thoại ghi nhận nhiều tin nhắn zalo liên quan đến hoạt động mua bán ma túy của L, đồng thời ghi nhận L đã 05 lần chuyển tiền mua ma túy cho D, là phương tiện sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, là vật chứng liên quan đến vụ án, có giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước.
+ 01 xe gắn máy biển số 59V3-266.02. Số khung: RLHJF5832KZ620555, số máy: JF86E5086249. Kết quả xác minh xe do chị Trần Thị Như Phượng (sinh năm 1990; thường trú: Nhà số 69/37 đường Lý Thường Kiệt, Phường 4, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. L khai mượn xe trên của chị ruột tên là Trần Thị Như Phượng để đi công việc, sau đó sử dụng để đi giao ma túy. Xét tài sản hợp pháp của chị Phượng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe trên cho chị Phượng là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với vật chứng của Dương Ngọc D:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 túi nylon màu vàng, bên trong có 01 hộp giấy đựng: 01 đế để điện thoại di động và 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4900g, loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có khối lượng 2,3947g
+ 01 điện thoại Nokia màu đen, sim số 0932062285, là phương tiện sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, là vật chứng liên quan đến vụ án, có giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước.
+ 01 xe gắn máy biển số 59X3-114.21. Số khung: RLHJF5819GY189787, số máy: JF66E0189841. Kết quả xác minh xe do bà Vũ Thị Tuyết Vân (sinh năm 1974, thường trú: Nhà số 4A/1 Đường số 20, khu phố 7, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2018, bà Vân đã bán xe trên cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) có làm hợp đồng bán xe nhưng không còn giữ. D khai mượn xe trên của bà Nguyễn Thị Bích Thủy (sinh năm 1951, thường trú: 232/37/10 đường Đoàn Văn Bơ, Phường 10, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh) để đi công việc, sau đó sử dụng để hoạt động mua bán ma túy. Bà Thủy khai xe trên là tài sản của con trai bà tên Nguyễn Văn Tuấn (sinh năm 1975, thường trú: Nhà số 232/37/10 đường Đoàn Văn Bơ, Phường 10, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh), ông Tuấn mua xe lại có hợp đồng mua bán, ông Tuấn đã chết vào ngày 25/8/2023, xe trên hiện nay do bà Thủy quản lý, sử dụng hợp pháp nên trả lại xe trên cho bà Thủy.
. Về thu lợi bất chính:
- Bị cáo Trần Thị Kim L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.500.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Dương Ngọc D phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Đối với người đàn ông tên Nghĩa (không rõ lai lịch) mua ma túy của L và khách (không rõ lai lịch) mua ma túy của D. Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với người đàn ông ở Quận 6 (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho D, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh đang tiến hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Dương Ngọc D 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim L 07 (Bảy) năm tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam hai bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về thu lợi bất chính:
- Bị cáo Trần Thị Kim L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.500.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
- Bị cáo Dương Ngọc D phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước.
4. Về các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội và xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi số vụ 236/24 Bình Thạnh cùng các chữ ký ghi tên của Giám định viên Phan Tấn Quốc và Cán bộ điều tra Võ Tấn Lộc, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có tổng khối lượng 0,3408g
+ 01 gói được niêm phong bên ngoài ghi số vụ 237/24 Bình Thạnh cùng các chữ ký ghi tên của Giám định viên Phan Tấn Quốc và Cán bộ điều tra Võ Tấn Lộc, bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có tổng khối lượng 2,3947g.
- Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone màu vàng, sim số 0909677684 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 túi nylon màu vàng, 01 hộp giấy, 01 đế để điện thoại
- Tịch thu, nộp vào Ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Nokia màu đen (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích Thủy: 01 xe mô tô biển số 59X3-114.21, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu: Honda, số loại: Vison, màu sơn: Xanh, số khung: RLHJF5819GY189787, số máy: JF66E0189841, dung tích xilanh: 108cm3 (không kiểm tra tình trạng hoạt động).
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh quận Bình Thạnh với Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).
5. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH/ 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo Trần Thị Kim L, Dương Ngọc D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Bị cáo Trần Thị Kim L, Dương Ngọc D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp, Hồ Chí Minh; - VKSND Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND quận Bình Thạnh; - Công an quận Bình Thạnh; - Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Trại giam; - Công an Tp. Hồ Chí Minh-PC06; - Bị cáo; -Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Tùng |