vanban.org

Bản án 146/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 24/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Trung T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023 [2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Trung T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Trung T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2023/HSST
Ngày: 24/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hương;

Ông Đào Thị Quế,

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 143/2023/ HSST ngày 30 tháng 10 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2023/ QĐXXST – HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Trung T, sinh năm 1989, tại tỉnh Kiên Giang.

Căn cước công dân số: Không thu thập được.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang..

Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Trần Ngọc A; bị cáo có vợ và 02 người con lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày XX/X/2023 cho đến nay, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 13/6/2023, Nguyễn Trung T dùng điện thoại di động hiệu (Jmy có số thuê bao 0797601XXX) gọi cho một người tên Định (không rõ nhân thân, lý lịch) hỏi mua 600.000 đồng ma túy đá thì Định đồng ý bán và hẹn T đến dốc cầu 38 thuộc thôn X, xã Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước để giao dịch. T mượn xe mô tô của một người tên Hùng (không rõ nhân thân, lý lịch) điều khiển đến vị trí nêu trên gặp Định mua được 01 gói nylon bên trong có chứa 02 gói ma tuý đá, rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc, điều khiển xe mô tô trở về nhà tại thôn 2, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng. Tại đây, T lấy gói ma túy nhét vào trong lỗ viên gạch trên vách tường phòng khách rồi nằm ngủ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bù Đăng phối hợp với Công an xã Đức Liễu kiểm tra, thu giữ 01 gói nylon có ma túy ở phòng khách. Tiếp tục khám xét phát hiện, thu giữ 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá tại vị trí trong lỗ gạch trên bức tường giữa nhà bếp và phòng ngủ (T khai nhận là của T mua về để sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bù đã niêm phong tang vật cả 02 gói nylon có ma túy (ký hiệu M, có chữ ký của T) và thu giữ 01 điện thoại di động để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số: 671/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,3977 gam (không phẩy ba chín bảy bảy gam).

- Về vật chứng vụ án, đã xử lý: Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng 01 điện thoại di động và số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Tại Cáo trạng số 150/CT –VKS.BĐ ngày 30/10/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 12 đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng.

Bị cáo Nguyễn Trung T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 13/6/2023, Nguyễn Trung T mua ma tuý, loại Methamphetamine với giá 600.000 của người tên Định ở khu vực thôn 5, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mang về nhà cất giấu trong lỗ viên gạch trên vách tường phòng khách. Đồng thời trước đó, T đã mua ma tuý, loại Methamphetamine về cất giấu tại vị trí trong lỗ gạch trên bức tường giữa nhà bếp và phòng ngủ để sử dụng dần. Đến ngày 14/6/2023, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra

- Công an huyện Bù Đăng phối hợp với Công an xã Đức Liễu kiểm tra tại nhà của T ở tại Thôn X, xã Đ, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước phát hiện lập biên bản quả tang người cùng tang vật 02 gói là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3977 gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Trung T đã phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do lối sống buông thả, dẫn đến nghiện ma túy nên mặc dù nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có con còn nhỏ đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Cần tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Jmy có số thuê bao 0797601706

Cần tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, do bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc hai bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Đối với người tên Định bán ma tuý cho T không xác định được nhân thân, lý lịch; không có tài liệu chứng cứ khác; không có căn cứ xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với người tên Hùng cho T mượn xe mô tô đi mua ma tuý không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Trung T phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2023

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu hoá giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Jmy có số thuê bao 0797601706

Tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước để phục vụ việc truy tố, xét xử.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ