- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Huỳnh Thỳ Q yêu cầu được ly hôn ông Lê Bảo Q"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Phạm Huỳnh Thùy Quyên.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24/02/2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bảo Lâm
2. Bà Nguyễn Thị Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1072/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ‘‘Ly hôn’’ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Huỳnh Thùy Q – sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: 730/2/10 đường L, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Bảo Qu – sinh năm 1994
Địa chỉ: 730/2/10 đường L, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Lê Bảo Qu vắng mặt lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 08/11/2022 và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn – bà Phạm Huỳnh Thùy Q trình bày: Bà và ông Lê Bảo Qu tự nguyện kết hôn với nhau năm 2017 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 108/2017 do UBND Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/11/2017). Thời gian đầu sau kết hôn thì cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, sau này không hạnh phúc do có nhiều mâu thuẫn, ông Qu có tình cảm với người khác, hiện bà không còn tình cảm với ông Qu nữa nên yêu cầu được ly hôn với ông Qu.
Về con chung: Có 1 con chung là Lê Phạm Bảo K – sinh ngày 30/3/2019. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ K, không yêu cầu ông Qu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập cho ông Qu để tự khai; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Qu đều vắng mặt.
Tại phiên tòa, Bị đơn – ông Lê Bảo Qu vắng mặt.
Nguyên đơn – bà Phạm Huỳnh Thùy Q trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông Qu không có trách nhiệm với vợ con, không chung thủy. Từ tháng 12/2020 đến nay vợ chồng ly thân, mặc dù sống chung nhà nhưng không quan tâm đến nhau nữa nên bà xin được ly hôn với ông Qu, được nuôi con, không yêu cầu ông Qu cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã làm đúng quy định của pháp luật, xét xử đúng hạn luật định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Qu có nơi cư trú tại quận Tân Bình. Căn cứ Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Q thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn – bà Q có mặt. Bị đơn – ông Qu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Qu theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ bản chính Giấy chứng nhận kết hôn số: 108/2017 do UBND Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/11/2017 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Q và ông Qu là hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà Q yêu cầu được ly hôn với ông Qu vì quá trình chung sống không hạnh phúc, ông Qu không có trách nhiệm với gia đình, không chung thủy, từ tháng 12/2020 đến nay vợ chồng đã ly thân.
Xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, ông Qu đã không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án chứng tỏ ông Qu không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà Q, ông Qu ly thân đã lâu, mâu thuẫn giữa các bên là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Q, cho bà Q được ly hôn ông Qu để hai bên cùng ổn định cuộc sống.
Về quan hệ con chung: Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số: 114/2019 do UBND Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/4/2019 thì cháu Lê Phạm Bảo K – sinh ngày 30/3/2019 là con chung của bà Phạm Huỳnh Thùy Q và ông Lê Bảo Qu.
Bà Quyên yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Khanh không yêu cầu ông Quốc cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Cháu K còn nhỏ hiện bà Q đang trực tiếp chăm sóc, nên để ổn định sinh hoạt, học hành của cháu K Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Q, quyết định giao cháu K cho bà Q tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Q không yêu cầu ông Qu cấp dưỡng nuôi cháu K do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K đối với ông Qu do bà Q không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q trình bày không có nên Hội đồng xét xử không có gì phải xem xét giải quyết, nếu sau này ông Qu có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, bà Q phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được cấn trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 21; Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Phạm Huỳnh Thùy Quyên.
a. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Huỳnh Thùy Q được ly hôn ông Lê Bảo Qu.
b. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Phạm Bảo K – sinh ngày 30/3/2019 cho bà Phạm Huỳnh Thùy Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Lê Phạm Bảo K đối với ông Lê Bảo Qu do bà Phạm Huỳnh Thùy Q không yêu cầu.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014 Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
c. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Huỳnh Thùy Q trình bày không có, nếu sau này ông Lê Bảo Qu có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.
2/ Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) do bà Phạm Huỳnh Thùy Q chịu, được cấn trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Phạm Huỳnh Thùy Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0032326 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
3/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4/ Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Huỳnh Thùy Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Bảo Qu được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
5/ Về quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; -Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; -Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình; - Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Mai Hương |