vanban.org

Bản án 146/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 18/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc ông Võ Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh An Giang đại diện nhận) tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2023 là 317.525.147đồng (ba trăm mười bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó nợ gốc là 196.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2023/DS – ST
Ngày: 18 – 7 – 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Mỹ Hường

2. Ông Trần Thanh Việt.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Ngọc Mến – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thụ lý số: 190/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2023/QĐXXST – DS ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 252/2023/QĐST- DS ngày 26/6/2023, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S)

Địa chỉ trụ sở: Số A, phường V, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh S - Giám đốc chi nhánh An Giang (theo Quyết định về việc ký hợp đồng/ thỏa thuận, văn bản và thma gia tố tụng số 3270/2022/QĐ-PL ký ngày 26/12/2022).

Ông Trần Minh S ủy quyền lại cho: ông Chu Toàn T, sinh năm 1989, chức vụ: Nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần S;

Địa chỉ liên lạc: Số C, Phường Q, Thành phố X, Tỉnh An Giang;

+ Bị đơn: Ông Võ Thanh T1, sinh năm 1975

Địa chỉ: Số C đường D, Phường E, Quận G, TP.HCM;

Địa chỉ liên lạc: Số F, Khóm K, phường H, Thành phố X, An Giang.

(ông T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 17/4/2023 và tại các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án, ông Chu Toàn T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 20/07/2018, ông T1 có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 405.339.958 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 409.085.928 đồng. Đến ngày 23/03/2022, ông T1 không còn thực hiện trả nợ cho Ngân hàng, qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 18/7/2023, ông T1 còn nợ số tiền cụ thể như sau:

Dư nợ gốc: 196.568.724 đồng

Lãi: 120.956.423 đồng

Tộng cộng: 317.525.147 đồng

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông T1, yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông T1 trả nợ, tuy nhiên ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Võ Thanh T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2023 là 317.525.147 đồng. Trong đó nợ gốc là 196.568.724 đồng và lãi quá hạn là 120.956.423 đồng. Ông Võ Thanh T1 còn có trách nhiệm khoản lãi phát sinh từ ngày 19/7/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng mà ông T1 đã ký kết với Ngân hàng.

* Bị đơn ông Võ Thanh T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp chứng cứ chứng minh cũng như không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ông T đại diện theo ủy quyền của S có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Võ Thanh T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu:

1. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Đối với nguyên đơn: đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý đến nay, bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không tham gia các phiên hoà giải, phiên tòa do Toà án thực hiện là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự nên còn phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định pháp luật.

3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án

Căn cứ Điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện ông Võ Thanh T1 yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 20/07/2018. Do đó, xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, ông T1 đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T1 và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn.

Ông Chu Toàn T - Chức vụ: Nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh An Giang là người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Thủ tục ủy quyền phù hợp với quy định pháp luật nên ông T tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 85, Điều 86 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Ngân hàng thương mại cổ phần S và ông Võ Thanh T1 ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng vào ngày 20/7/2018 với nội dung: Ngân hàng đồng ý mở thẻ tín dụng cho ông T1 với hạn mức sử dụng tín dụng là 200.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, với mục đích: tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền tổng số tiền là 405.339.958 đồng và đã thực hiện thanh toán cho Ngân hàng số tiền 414.085.928 đồng. Do ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 phải trả tổng số tiền là 317.525.147 đồng, trong đó nợ gốc là 196.568.724 đồng và lãi quá hạn là 120.956.423 đồng, đồng thời yêu cầu ông T1 phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi trả dứt nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) giữa Ngân hàng và bà Thảo được xác lập trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này có giá trị pháp lý. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía ông T1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán vốn, lãi còn nợ và tiền lãi tiếp tục phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Do ông T1 không thanh toán số tiền đã rút đúng hạn cho Ngân hàng nên ngoài nghĩa vụ thanh toán nợ gốc thì ông T1 còn phải trả lãi trong hạn, lãi suất nợ quá hạn cho Ngân hàng theo các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông T1 đã ký với Ngân hàng. Tổng cộng tiền lãi tạm tính đến ngày 18/7/2023 là 120.956.423đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông T1 đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không tham dự phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự và buộc ông T1 phải có nghĩa vụ trả số tiền nêu trên cho Ngân hàng. Tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2023 là: 196.568.724đồng + 120.956.423đồng = 317.525.147 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP S được nhận lại (do Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh An Giang đại diện nhận) tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.595.000đ (bảy triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001705 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 15.876.257 đồng (mười lăm triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, Điều 227, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng;

- Các Điều 463, 465, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Các Điều 2, 6, 7, 9 và 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Buộc ông Võ Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh An Giang đại diện nhận) tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2023 là 317.525.147đồng (ba trăm mười bảy triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn một trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó nợ gốc là 196.568.724 đồng (một trăm chín mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn bảy trăm hai mươi bốn đồng) và lãi quá hạn là 120.956.423 đồng (một trăm hai mươi triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi ba đồng)..

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (18/7/2023), khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

* Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại (do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.595.000đ (bảy triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001705 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Bị đơn là ông Võ Thanh T1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 15.876.257 đồng (mười lăm triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi bảy đồng).

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ