- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tá H và đồng phạm phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Tá H, Phan Văn T2, Phan Trọng T1 sửa bản án sơ thẩm số 24/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2022/HS-PT Ngày: 30/9/2022 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thiện
Các Thẩm phán: Ông Trần Khắc H, bà Trần Thị Thu Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Tống K Lâm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2022/TLPT-HS ngày 29/8/2022 đối với ị cáo Võ Tá H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án HSST số: 24/2022/HSST ngày 8/7/2022 của TAND hu ện Lộc Hà, Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. VÕ TÁ H - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngà : 29/10/1994, tại xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Hữu Ninh, xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Con ông: Võ Tá H- Sinh năm: 1953 và à: Lê Thị T5 - Sinh năm: 1954; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo ị tạm giữ từ ngà 10/3/2022 đến ngà 16/3/2022 được tha thế iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. PHAN TRỌNG T1 - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngà : 20/5/1990, tại xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Đại Yên, xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Con ông: Phan Trọng T6 - Sinh năm: 1944 và à: Trần Thị S - Sinh năm: 1954; Vợ: Ngu ễn Thị Bích P - Sinh năm: 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngà 19/9/2012 ị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 13 tháng 10 ngà về tội “Cố ý gâ thương tích”, theo Bản án số 94/2012/HSST (Đã được xóa tiền án); Ngà 21/01/2014 ị Tòa án nhân dân hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 14 tháng tù về tội “Đánh ạc” theo ản án số 01/2014/HSST (đã được xóa án tích); Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo ị tạm giữ từ ngà 10/3/2022 đến ngà 16/3/2022, được tha thế iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
3. PHAN VĂN T2 - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngà : 20/9/1982, tại xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Hữu Ninh, xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, Hà Tĩnh; Nơi tạm trú: thôn Đức Châu, xã Thạch Châu, hu ện Lộc Hà, Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Con ông: Phan Văn B - Sinh năm: 1941 và à: Trần Thị K - Sinh năm 1941; Vợ: Lê Thị H - Sinh năm: 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngà 28/6/2013 ị Tòa án nhân dân hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh ạc”, theo ản án số 20/2013/HSST (đã được xóa án tích); Ngà 02/5/2009 ị Công an hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính ằng hình thức phạt tiền với số tiền 300.000 đồng về hành vi vi “Đánh ạc” theo qu ết định xử phạt hành chính số 02/QĐ - XPHC (đã được xóa tiền sự); Ngà 10/01/2013 ị Công an hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính ằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000đồng về hành vi vi “Đánh ạc” theo qu ết định xử phạt hành chính số 02/QĐ- XPHC (đã được xóa tiền sự); Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo ị áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
4. ĐẬU VĂN K - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngà : 02/6/1987, tại xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Hữu Ninh, xã Thạch Mỹ, hu ện Lộc Hà, Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Con ông: Đậu Công N - (Đã chết) và à: Lê Thị L1 - Sinh năm: 1948; Vợ: Phạm Thị ThA H1 - Sinh năm: 1989 và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngà 12/9/2006 ị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, theo ản án số 71/2006/HSST (đã được xóa án tích); Ngà 07/4/2011 ị Công an hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính ằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi vi “Đánh ạc” theo qu ết định xử phạt hành chính số 72/QĐ- XPHC (đã được xóa tiền sự); Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo ị tạm giữ từ ngà 11/3/2022 đến ngà 16/3/2022 được tha thế iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Ngà 13/8/2022, ị Công an tỉnh Hà Tĩnh khởi tố về tội “Đánh ạc”. Hiện đang ị tạm giam tại trại giam công an tỉnh Hà Tĩnh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị:
Lê Đức T3; Sinh ngày: 04/8/1960; Nơi cư trú: Thôn Tâ Giang, xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh, vắng mặt.
Nguyễn Tuấn A; Nơi cư trú: Thôn Hữu Ninh, xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
Chị Võ Thị T2 - Sinh ngày: 13/4/1995, Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn Hữu Ninh, xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh
Chị Nguyễn Thị Bích P - Sinh ngày: 20/10/1997, vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn Đại Yên, xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đó có iết tại khu vực cánh đồng thuộc thôn Tây Giang, xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà thỉnh thoảng có tụ tập đánh ạc nên vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/3/2022, Phan Văn T2 gọi điện thoại rủ Đậu Văn K, sau đó Đậu Văn K gọi điện thoại rủ Phan Trọng T1 ra khu vực trên để đánh ạc. Cùng trong khoảng thời gian trên, Nguyễn Tuấn A gọi điện thoại rủ Võ Tá H đi đánh ạc được H đồng ý. T2 đi bộ, T1 nhờ một người đàn ông tên Ngọc (không rõ lai lịch cụ thể) chở, còn Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS 38L1- 169.86 của vợ là Võ Thị T2 ra khu vực cánh đồng thuộc thôn Tây Giang, xã Thạch Mỹ để cùng nhau đánh bạc thì gặp K cùng với H đi ộ trên đường nên chở K và H cùng đi. Khi đi đến khu vực ãi đất trống ở giữa cánh đồng thì gặp Phan Trọng T1, Phan Văn T2 và Lê Đức T3 cùng một số người khác (không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể) đang ngồi chơi ở đó. Lúc này, tại cánh đồng đã có sẵn từ trước 01 chiếc bạt, 01 bộ ài tú lơ khơ, 01 chiếc kéo và 01 bộ át đĩa nên H lấy kéo cắt một quân bài thành 04 quân vị. Sau đó cả nhóm gồm Lê Đức T3, Võ Tá H, Đậu Văn K, Phan Trọng T1, Nguyễn Tuấn A và Phan Văn T2 ngồi vào bạt và cùng nhau đánh ạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa”, trong đó Lê Đức T3 là người “cầm cái”, cách thức đánh như sau: Người cầm cái xóc (dùng một chiếc đĩa, một chiếc bát bằng sứ, bên trong có 04 quân vị được cắt từ quân ài tu lơ khơ). Sau khi người cầm cái xóc xong thì mọi người đặt tiền vào ô “chẵn” hoặc “lẻ”. Khi mở bát có 04 quân sấp hoặc 04 quân ngửa hoặc có 02 quân sấp 02 quân ngửa thì người đặt “lẻ” thua hết số tiền đặt, người đặt “chẵn” sẽ thắng và người cầm cái trả cho người thắng tương ứng với số tiền đặt cược tỷ lệ đánh 1 thắng 1. Khi mở bát có 03 quân sấp, 01 quân ngửa hoặc 03 quân ngửa 01 quân sấp thì người đặt “chẵn” thua hết số tiền đã đặt, người đặt “lẻ” sẽ thắng và người cầm cái trả cho người thắng tương ứng với số tiền đặt cược tỷ lệ đánh 1 thắng 1. Số tiền mỗi người đánh thấp nhất trong mỗi ván là 50.000 đồng, không có qu định số tiền cao nhất. Tổng mức tiền cao nhất trong mỗi lần đặt cược là khoảng 700.000 đồng. Trong quá trình đánh ạc, Đậu Văn K là người thu 400.000 đồng tiền “hồ” của mọi người để rồi đưa cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) mua thuốc, nước phục vụ đánh ạc. Tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng vào việc đánh ạc là 20.430.000 đồng (trong đó: Lê Đức T3 8.000.000 đồng, Võ Tá H 6.980.000 đồng, Đậu Văn K 2.000.000 đồng, Phan Trọng T1 1.900.000 đồng, Nguyễn Tuấn A 1.000.000 đồng, Phan Văn T2 550.000 đồng). Các đối tượng cùng nhau đánh ạc từ 13 giờ 30 phút ngà 10/3/2022 đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Lộc Hà bắt quả tang cùng tang vật. Quá trình bị phát hiện Lê Đức T3, Đậu Văn K và Phan Văn T2 bỏ chạy khỏi hiện trường, đến các ngày 11 và 12/3/2022 đã đến Công an huyện đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 24/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã qu ết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đức T3; Võ Tá H; Phan Trọng T1; Phan Văn T2; Đậu Văn K và Nguyễn Tuấn A, phạm tội "Đánh ạc".
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm I, điểm s, điểm x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Đức T3 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngà 12/3/2022 đến ngày 16/3/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Tá H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngà 10/3/2022 đến ngày 16/3/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Trọng T1 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngà 10/3/2022 đến ngày 16/3/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Văn T2 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đậu Văn K 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngà 11/3/2022 đến ngày 16/3/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lê Đức T3 số tiền: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Võ Tá H số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Phan Trọng T1 số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Phan Văn T2 số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
- Xử phạt bị cáo Đậu Văn K số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Sau khi tu ên án sơ thẩm, ngày 11/7/2022 bị cáo Phan Văn T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 19/7/2022 bị cáo Phan Trọng T1, Đậu Văn K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 22/7/2022 bị cáo Võ Tá H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 BLTTHS xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Văn K; Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Phan Trọng T1, Phan Văn T2; giảm hình phạt cho bị cáo T2, T1 mỗi bị cáo 3 tháng tù; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tá H, cải hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để Kt luận: Vào khoảng thời gian từ 13 giờ 30 phút đến 15 giờ 30 phút ngày 10/3/2022, tại khu vực cánh đồng thuộc thôn Tây Giang, xã Thạch Mỹ, Huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Đức T3, Võ Tá H, Đậu Văn K, Phan Trọng T1, Nguyễn Tuấn A và Phan Văn T2 đã có hành vi đánh ạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa” với tổng số tiền là 20.430.000 đồng (trong đó: Lê Đức T3 8.000.000 đồng; Võ Tá H 6.980.000 đồng; Phan Trọng T1 1.900.000 đồng; Đậu Văn K 2.000.000 đồng; Nguyễn Tuấn A 1.000.000 đồng; Phan Văn T2 550.000 đồng) thì bị bắt quả tang.
Với hành vi nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử bị cáo Võ Tá H; Phan Trọng T1; Phan Văn T2; Đậu Văn K về tội “Đánh ạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự quản lý hành chính tại địa P là nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội khác trên địa bàn, bị dư luận xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm. Khi thực hiện hành vi, các i cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Xét kháng cáo của các bị cáo:
Trong vụ án này Võ Tá H là người cắt quân vị; bị cáo Phan Văn T2 gọi điện thoại rủ bị cáo Đậu Văn K; bị cáo Đậu Văn K gọi điện thoại rủ Phan Trọng T1 nên các bị cáo này là những người thực hành.
Xét T1 tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có T1 tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét T1 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều được hưởng T1 tiết giảm nhẹ TNHS: Thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải qu định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo Võ Tá H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng qu định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS; Phan Văn T2 tham gia đánh ạc với tang số ít (550.000 đồng) sau khi sự việc bị phát hiện đến công an huyện đầu thú; Bị cáo Phan Văn T2 có bố đẻ Phan Văn B là người có công với cách mạng được tặng thương huân chương kháng chiến hạng nhì; Vợ bị cáo đạt nhiều thành tích trong công tác được tặng thưởng nhiều bằng khen, giấ khen. Gia đình ị cáo hoàn cảnh khó khăn ố mẹ hai ên đều già yếu, bệnh tật; gia đình ị cáo trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Bị cáo Phan Trọng T1 hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có việc làm, hai con còn nhỏ; có bố đẻ Phan Trọng T6 là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. Các bị cáo Phan Trọng T1; Phan Văn T2 đã ị Tòa án xử phạt tù nhưng đều đã được xóa án tích và đã ị Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính, nhưng đều đã được xóa tiền sự. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Võ Tá H, Phan Văn T2, Phan Trọng T1 đã tự nguyện nộp tiền phạt 10.000.000 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm, chứng tỏ các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình, vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo cải tạo giáo dục tại địa P cũng đủ nghiêm vì vậy kháng cáo được chấp nhận.
Bị cáo Đậu Văn K có bố đẻ Đậu Công N là người có công với cách mạng được tặng thương huân chương chiến công hạng nhất), đâ là những T1 tiết giảm nhẹ TNHS theo qu định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tự nguyện nộp tiền phạt. Tuy nhiên trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh ạc. Ngày 13/8/2022, Đậu Văn K bị Công an tỉnh Hà Tĩnh khởi tố về tội “Đánh ạc”, hiện đang ị tạm giam tại trại giam công an tỉnh Hà Tĩnh. Vì vậy, không có căn cứ để chấp kháng cáo của bị cáo.
Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Võ Tá H, Phan Văn T2, Phan Trọng T1 được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của Đậu Văn K không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Võ Tá H, Phan Văn T2, Phan Trọng T1 sửa bản án sơ thẩm số 24/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân hu ện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đậu Văn K, giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo.
Tuyên bố: Các bị cáo Võ Tá H; Phan Trọng T1; Phan Văn T2; Đậu Văn K phạm tội "Đánh ạc".
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Tá H 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phan Trọng T1 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt bị cáo Phan Văn T2 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Đậu Văn K 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngà 11/3/2022 đến ngày 16/3/2022.
Giao các bị cáo Võ Tá H, Phan Văn T2, Phan Trọng T1 cho UBND xã Thạch Mỹ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình ị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo tha đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 87, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ an thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Võ Tá H; Phan Trọng T1; Phan Văn T2 không phải nộp án phí Hình sự phúc thẩm; Đậu Văn K phải nộp 200.000đ án phí Hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - PV 06 – Công an tỉnh Hà Tĩnh - TA, CA, VKS, THA sơ thẩm; -Lưu hồ sơ, THS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thiện |