- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 146/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 06 - 2022 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Bé
2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi – kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 06 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 341/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 05 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa: 217/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/05/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ng T L, sinh năm 1995; địa chỉ: số 649 ấp 3, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT (có đơn xin vắng mặt);
2. Bị đơn: Ông Ng V Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp Trung, xã MH, huyện CM, tỉnh AG (vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ng T L: Luật sư Nguyễn Văn Phúc, thuộc văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Phúc – Đoàn Luật sư tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Ng T L trình bày: Bà Ng T L và ông Ng V Đ đi đến hôn nhân vào năm 2016, hôn nhân do mai mối, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT. Vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, ông Đ không quan tâm chăm sóc cho gia đình, nên giữa bà L và ông Đ không sống chung từ năm 2018 cho đến nay. Bà L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà L yêu cầu được ly hôn với ông Đ
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 04/12/2016, khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn là ông Ng V Đ đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Đ đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do. Tại phiên tòa: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ng T L: Luật sư Nguyễn Văn Phúc vắng mặt tại phiên tòa. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới: Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.
- Đối với nguyên đơn: Bà Ng T L từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn: Ông Ng V Đ, từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn Phúc, từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề xuất:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ng T L đối với ông Ng V Đ.
- Bà Ng T L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thiện Nhân
- Sinh ngày 04/12/2016. Ông Ng V Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bà Ng T L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ng V Đ, về con chung bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Ng V Đ với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại xã MH, huyện CM, tỉnh AG nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông Ng V Đ không đến tham gia phiên Tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của ông Đ không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Ng V Đ.
Bà Ng T L có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do: hiện nay bà L làm thuê tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và con chung đang bệnh nên việc đi lại gặp khó khăn, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Ng T L.
Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn Phúc, đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông Phúc không đến tham gia phiên Tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của ông Phúc không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn Phúc.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Ng T L và ông Ng V Đ là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vì mâu thuẫn vợ chồng, bà L cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, nên cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc dẫn đến vợ chồng không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay, hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt. Vì vậy, bà L có yêu cầu được ly hôn ông Đ là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận. Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 04/12/2016, khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, con chung hiện nay bà L đang nuôi dưỡng, ông Đ không có ý kiến phản hồi về nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử giao con chung cho bà L được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết. [3] Về án phí: Do yêu cầu của bà Ng T L được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng T L, bà Ng T L được ly hôn với ông Ng V Đ. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53 ngày 22 tháng 9 năm 2016 do Ủy ban nhân dân xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT cấp cho bà Ng T L và ông Ng V Đ không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Bà Ng T L được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thiện Nhân, sinh ngày 04/12/2016, ông Ng V Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. 3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết. 4. Về án phí: Bà Ng T L phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0010432, ngày 28/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Các đương sự (để thi hành); - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: HSVA. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Diệu |