vanban.org

Bản án 146/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân P 14 ( mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trần Xuân P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SƠN LA
TỈNH SƠN LA
__________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2021/HS-ST
Ngày 15-9-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Quốc Bình.

2. Ông Hà Văn Tiêm.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Tía - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tố Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Xuân P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/10/1963, tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tổ 15, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Trần Mạnh H và bà Lê Thị T; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị M ( đã ly hôn năm 2006) và có 01 con sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 08/6/2021, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, Ma túy, công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 05, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, phát hiện bắt quả tang Trần Xuân P đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: 01 gói ni lon màu hồng bên trong có chứa cục, bột màu trắng (P tự giác lấy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra giao nộp, khai là Heroine cất giữ để sử dụng).

Quá trình điều tra, Trần Xuân P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/6/2021 P đi taxi từ chỗ ở tại tổ 5, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La đến khu vực đường Chu Văn An nhánh 2 thuộc tổ 3, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng, đến nơi P đi bộ và gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng bên đường P đến gần trao đổi, nói chuyện và hỏi mua của người đàn ông đó 01 gói ni lon màu hồng bên trong có cục, bột màu trắng với giá 300.000đ, sau khi mua được ma túy P cho vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi tiếp tục đi ra đường đón xe taxi đi về tổ 5, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La để tìm nơi sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, Ma túy, công an thành phố Sơn La phối hợp với Công an phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La phát hiện bắt quả tang, P đã tự giác lấy 01 gói giấy màu hồng bên trong có chứa cục, bột màu trắng từ túi quần phía bên trái đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đó là ma túy P mua để sử dụng cho bản thân. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Ngày 08/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu gửi giám định, kết quả: số cục, bột màu trắng có khối lượng 0,20 gam; lấy 0,07 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy, ký hiệu P1; số còn lại 0,13 gam lưu kho ký hiệu P2.

Kết luận giám định số 1100 ngày 10/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,20 gam; loại Heroine”. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Về nguồn gốc số ma túy trong vụ án, bị cáo Trần Xuân P khai mua của một người nam giới không biết họ tên, địa chỉ với giá 300.000 đồng vào ngày 08/6/2021 tại khu vực tổ 03, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn nguồn tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở mở rộng vụ án.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 541/CT-VKSTP ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Trần Xuân P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Xuân P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trần Xuân P từ 13 đến 16 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Xuân P - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 08/6/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; Mẫu lưu P2 = 0,13 gam”, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong số 039195 có chữ ký ghi dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, 01 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La và dòng chữ: “ cơ quan CSĐT- CATP Sơn La hồi 15 giờ 30 phút ngày 08/6/2021 tại CATP Sơn La, tỉnh Sơn La”.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Xuân P nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không bổ sung thêm nội dung gì, bị cáo nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 50 phút ngày 08/6/2021 tại tổ 5, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với bị cáo Trần Xuân P cùng vật chứng thu giữ.

- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 1100 ngày 10/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La;

- Lời khai nhận tội của bị cáo;

- Các biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Lò Văn H, sinh năm 1957. Địa chỉ: Tổ 2, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Xuân P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Xuân P phạm tội với tổng khối lượng 0,20 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có công việc, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh ni lon màu hồng; Mẫu lưu có khối lượng 0,13 gam ký hiệu P2 là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Đối với 0,20 gam Heroine, bị cáo Trần Xuân P khai mua của của một người nam giới không quen biết vào ngày 08/6/2021 tại khu vực tổ 3, phường Quyết Tâm, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác chứng minh, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.

Về án phí: Do hành vi phạm tội của bị cáo nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân P 14 ( mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) chiếc phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Trần Xuân P - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 08/6/2021. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; Mẫu lưu P2 = 0,13 gam”, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong số 039195 có chữ ký ghi dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong, 01 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Sơn La và dòng chữ: “ cơ quan CSĐT- CATP Sơn La hồi 15 giờ 30 phút ngày 08/6/2021 tại CATP Sơn La, tỉnh Sơn La”.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 8 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Trần Xuân P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự:

̀

Bị cáo Trần Xuân P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 15/9/2021.

Cỡ chữ