vanban.org

Bản án 146/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

(1) Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 – Bộ luật hình sự.

Xử phạt Dương Đức C 01 năm 04 tháng (Một năm bốn tháng) tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 08 tháng (Hai năm tám tháng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Dương Văn C cho UBND xã T, huyện P, tỉnh T giám sát và giá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? (1) Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 – Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2021/HS-ST
Ngày 18/ 9/ 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hợp.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Hải.

Ông Nguyễn Văn Chiến.

-Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thế Đức- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2021/ TLST-HS ngày 27/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2021/ QĐXXST-HS ngày 03/9/2021 đối với bị cáo:

Dƣơng Đức C, sinh năm 1994.

Trú tại: Thôn G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn Đ và bà Lăng Thị L; vợ: Tạ Thị V; con: Có 01 con sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

-Bị hại: Ông Thân Văn P (đã chết).

-Đại diện hợp pháp của bị hại:

1-Bà Thân Thị H, sinh năm 1952. Vắng mặt.

2-Anh Thân Văn N, sinh năm 1979. Vắng mặt.

3-Anh Thân Văn H, sinh năm 1975. Vắng mặt.

4-Anh Thân Văn V, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Tổ dân phố M 3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

( Bà H, anh N và anh V ủy quyền cho anh Thân Văn H tham gia tố tụng).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1974. Có mặt.

Trú tại: Thôn G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

-Người làm chứng:

1-Chị Tạ Thị V, sinh năm 2000. Vắng mặt

Trú tại: Thôn G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2-Anh Chu Tuấn L, sinh năm 1978. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Đức C sinh năm 1994, trú tại: thôn G, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có Giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 15/11/2018. Buổi sáng ngày 20/10/2020, Dương Đức C có lý lịch nêu trên điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C- 192.81 điều khiển từ nhà xuống khu công nghiệp Đình Trám, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang chở cám về nhà ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 10 giờ ngày 20/10/2020, Dương Đức C điều khiển xe ô tô đi trên đường Quốc lộ 37 theo hướng đường Cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi hướng thị trấn Bích Động, trên xe ngồi ghế phụ có chị Tạ Thị V sinh năm 2000 (là vợ của C), khi xe ô tô do C điều khiển đi vào trong khu vực ngã tư Đình Trám giữa đường Quốc lộ 37 với đường tỉnh lộ 295B thuộc địa phận thôn Hùng Lãm, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, không chấp hành hệ thống biển báo đã để phần đầu bên phải xe ô tô của mình va chạm vào sườn bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, biển kiểm soát 99FA- 3316 do ông Thân Văn P sinh năm 1952, trú tại: tổ dân phố M3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang điều khiển theo hướng từ thành phố Bắc Ninh đi thành phố Bắc Giang trong khu vực nga tư. Hậu quả ông P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 110, sau đó chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức- Hà Nội nhưng ông P đã tử vong trên đường.

Sau khi nhận được tin báo về vụ tai nạn giao thông trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn và trưng cầu giám định. Kết quả như sau:

* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại khu vực ngã 4 Đình Trám nơi giao nhau giữa Quốc lộ 37 với đường tỉnh lộ 295B thuộc địa phận thôn Hùng Lãm, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Mặt đường được trải nhựa thẳng. Hai đầu ngã 4 rộng 40m. Mặt đường Tỉnh lộ 295B rộng 10,6m. Mặt đường Quốc lộ 37 hướng đi thị trấn Bích Động rộng 14m; mặt đường Quốc lộ 37 hướng đi đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang rộng 26m. Tại các đầu ngã 4 trên đường Quốc lộ 37 và tỉnh lộ 295B có cắm biển báo nguy hiểm 205e (giao nhau với đường cùng cấp).

Phải trái hiện trường tính theo chiều hướng từ thành phố Bắc Ninh đi thành phố Bắc Giang. Lấy cột Km72 đường Quốc lộ 37 làm mốc và lấy mép đường bên phải tỉnh lộ 295B làm chuẩn. Các dấu vết, phương tiện trên hiện trường được đánh số thứ tự ký hiệu như sau: (1) là vết trượt xước, kích thước (3,6x0,01)m; (2) là vết trượt xước kích thước (3,8x0,02)m; (3) là xe mô tô biển kiểm soát 99FA- 3316; (4) là vết trượt lốp kích thước (1,65x0,12)m; (5) là vết trượt lốp kích thước (2,05x0,12)m; (6) là xe ô tô biển kiểm soát 20C- 192.81.

- (1) Là vết trượt xước kích thước (3,6x0,01)m, tâm đầu vết trượt xước cách mép đường bên trái 10,76m và cách trục bánh sau bên phải của xe ô tô 20C- 192.81 là 0,3m. Cuối vết trượt xước số (1) nằm đưới vị trí đầu để chân trước bên trái của xe mô tô và cách mép đường bên trái là 7,20m.

- (2) Là vết trượt xước kích thước (3,8x0,02)m, tâm đầu vết trượt xước cách mép đường bên trái 10,87m và cách tâm đầu vết trượt xước số (1) là 0,26m. Cuối vết trượt xước nằm đưới vị trí đầu núm tay lái bên trái của xe mô tô 99FA-3316 cách mép đường bên trái là 6,7m.

- (3) Là xe mô tô 99FA-3316 đang đổ nghiêng bên trái trên mặt đường. Đầu xe hướng thành phố Bắc Giang, đuôi xe hướng thành phố Bắc Ninh. Trục bánh trước cách mép đường bên trái là 7,50m và cách trục bánh trước bên phải của xe ô tô 20C- 192.81 là 0,47m. Trục bánh sau cách mép đường bên trái 7,10m.

- (4) Là vết trượt lốp kích thước (1,65x0,12)m, tâm đầu vết trượt lốp cách mép đường bên trái 9,48m và cách tâm đầu vết trượt xước số (2) là 1,4m. Cuối vết trượt lốp nằm dưới vị trí mặt lăn bánh lốp trước bên phải của xe ô tô 20C-192.81 và cách mép đường bên trái 7,8m.

- (5) Là vết trượt lốp kích thước (2,05x0,12)m, tâm đầu vết trượt lốp cách mép đường bên trái 10,40m và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 20C- 192.81 là 1,37m. Cuối vết trượt lốp nằm dưới vị trí mặt lăn bánh lốp trước bên trái của xe ô tô 20C- 192.81 và cách mép đường bên trái 8,0m.

- (6) Là xe ô tô 20C- 192.81 đang đỗ trên mặt đường. Đầu xe hướng thị trấn Bích Động, đuôi xe hướng cao tốc Hà Nội- Bắc Giang. Trục bánh trước bên trái cách mép đường bên trái 8,0m. Trục bánh sau bên trái cách mép đường bên trái 11,50m.

Khoảng cách từ trục bánh sau bên phải của xe ô tô 20C- 192.81 đến mép đường bên phải đường Quốc lộ 37 theo hướng từ đường cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi thị trấn Bích Động là 11,6m.

(7) là bãi máu trên mặt đường kích thước (1,0x0,35)m. Tâm bãi máu cách mép đường bên trái 6,0m và cách đầu tay lái bên trái của xe mô tô 99FA-3316 là 1,0m.

Khoảng cách 16,3m tính từ trục bánh trước của xe mô tô 99FA- 3316 đến cột Km72 đường Quốc lộ 37 được xác định là mốc của hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Thu giữ tại hiện trường: 01 xe mô tô biển kiểm soát 99FA- 3316, 01 xe ô tô biển kiểm soát 20C- 192.81.

* Kết quả khám xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, biển kiểm soát 99FA- 3316 do ông Thân Văn Phúc điều khiển:

- Xe không có gương chiếu hậu bên phải.

- Bát gương chiếu hậu bên trái bị nứt vỡ bật dời khỏi xe.

- Đầu núm tay lái bên phải bị tỳ nén, bẹp méo, kích thước (0,04x0,03)m, tâm cách đất 01m.

- Mặt ngoài giảm sóc phía trước bên phải để lại vết tỳ nén, mài sát mòn sơn nhựa, bám dính tạp chất màu xanh kích thước (0,09x0,03)m, tâm cách đất 0,42m.

- Cánh yếm bên phải bị tỳ nén nứt vỡ kích thước (0,50x0,09)m, tâm vết cách đất 0,60m.

- Cần chân phanh bên phải để lại vết tỳ nén mài sát bám dính tạp chất màu xanh kích thước (0,01x0,15)m, vị trí bám tạp chất màu xanh cách đất 0,32m.

- Đầu cần khởi động bên phải để lại vết tỳ nén mài sát bám dính tạp chất màu xanh kích thước (0,02x0,01)m, cách đất 0,38m.

- Ốp nhựa bảo vệ bình ác quy bên phải bật dời khỏi xe.

- Mặt ngoài ống xả để lại vết tỳ nén bẹp lõm mài sát mòn kim loại, bám dính tạp chất màu xanh, trắng, kích thước (0,46x0,03)m, tâm cách đất 0,23m.

- Mặt ngoài ổ khóa sườn xe bên phải để lại vết tỳ nén bám dính tạp chất màu xanh, kích thước (0,02x0,02)m, tâm cách đất 0,63m.

- Đầu tay lái bên trái bị tỳ đè nén bẹp lõm mài mòn kim loại, kích thước (0,03x0,02)m.

- Cánh yếm bên trái nứt vỡ bật dời khỏi xe.

- Đầu để chân trước bên trái bị tỳ nén mài sát mòn cao su hở lõi sắt, bám dính bột đá, kích thước (0,04x0,03)m.

- Mặt ngoài cổ xe bên phải để lại vết trà sát bám dính tạp chất màu xanh, kích thước (0,08x0,04)m, tâm cách đất 0,90m.

- Góc giỏ xe bên phải bị bẹp lõm, mòn sơn nhựa, kích thước (0,07x0,08)m, tâm cách đất 0,73m.

* Kết quả khám xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C- 192.81 do Dƣơng Đức Cừ điều khiển:

- Trán xe phía trước để lại vết tỳ nén, bẹp lõm, mài sát sơn, kích thước (0,40x0,30)m, tâm cách đất 1,30m.

- Mặt ga lăng phía trước để lại hai vết tỳ nén vỡ nhựa, vết thứ nhất kích thước (0,17x0,06)m, tâm cách đất 1m, vết thứ hai kích thước (0,10x0,03)m, tâm cách đất 0,97m.

- Góc phía trước bên dưới ga lăng để lại vết tỳ sát mòn nhựa kích thước (0,15x0,03)m, tâm cách đất 0,12m.

- Ốp nhựa phía dưới đèn pha bên trái để lại vết tỳ sát mòn nhựa kích thước (0,15x0,03)m, tâm cách đất 0,12m.

- Mặt ngoài đèn sương mù bên trái để lại vết tỳ sát mòn nhựa kích thước (0,10x0,03)m, tâm cách đất 0,09m.

- Mặt ngoài ba đờ sốc trước để lại vết tỳ sát, mòn sơn, bám dính tạp chất màu xanh, màu đen, kích thước (1,05x0,20)m, tâm cách đất 0,53m.

- Mặt dưới bậc lên xuống bên dưới, bên phải để lại vết mài sát sạch đất kích thước (0,04x0,005)m.

Ngày 05/11/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Việt Yên đã trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định cơ chế hình thành dấu vết trên hiện trường và trên phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông.

Tại Bản kết luận giám định số 1732/KL-KTHS ngày 30 tháng 11 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

1. Dấu vết nứt vỡ nhựa tại bên trái ga lăng (giàn tản nhiệt) của xe ô tô 20C-192.81 được hình thành do va chạm với dấu vết bẹp méo, mài sát kim loại, dính chất màu đen tại đầu tay lái bên phải của xe mô tô 99FA- 3316 tạo nên là phù hợp.

- Dấu vết mài sát sơn, kim loại, dính chất màu xanh tại bên phải ba đờ sốc trước của xe ô tô 20C- 192.81 được hình thành do va chạm với dấu vết mài sát sơn, kim loại, dính chất màu xanh tại giảm sóc trước bên phải của xe mô tô 99FA-3316 tạo nên là phù hợp.

- Dấu vết mài sát sơn, kim loại, dính chất màu xanh tại bên trái ba đờ sốc trước của xe ô tô 20C- 192.81 được hình thành do va chạm với dấu vết mài sát nhựa, dính chất màu xanh tại ổ khóa bên phải sườn xe mô tô 99FA-3316 tạo nên là phù hợp.

2. Dấu vết trượt xước ký hiệu số 1, số 2, được hình thành do quá trình sau khi va chạm xe mô tô 99FA-3316 đổ nghiêng trái, bị đẩy rê trượt, các vị trí đầu tay lái bên trái, đầu để chân trước bên trái của xe mô tô 99FA-3316 tiếp xúc với mặt đường tạo nên là phù hợp.

3. Dấu vết bẹp lõm, mài sát sơn, kim loại tại bên trái ốp kim loại đầu xe ô tô 20C- 192.81 được hình thành do va chạm với vật cứng có sự đàn hồi (như cơ thể nạn nhân Phúc) tạo nên là phù hợp.

4. Vị trí va chạm giữa xe ô tô 20C- 192.81 với xe mô tô 99FA- 3316 trên mặt đường ở phía trước điểm đầu dấu vết trượt xước ký hiệu số 1, số 2, thuộc ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ 37 và tỉnh lộ 295B.

5. Chiều hướng chuyển động khi va chạm: xe ô tô 20C- 192.81 chuyển động thẳng theo hướng cao tốc Hà Nội- Bắc Giang đi thị trấn Bích Động, xe mô tô 99FA- 3316 chuyển động thẳng hướng thành phố Bắc Ninh- thành phố Bắc Giang, trước đầu xe ô tô.

6. Không đủ cơ sở để xác định tốc độ của 2 phương tiện khi xảy ra tai nạn. (Bút lục 81-82).

* Kết quả khám nghiệm tử thi ông Thân Văn Phúc:

Khám ngoài:

- Nhận dạng tử thi là nam giới được xác định là Thân Văn P, sinh năm 1952, trú tại: tổ dân phố M 3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang; chiều dài tử thi 1,63m, thể tạng phát triển bình thường, tử thi đang trong giai đoạn mềm lạnh.

- Trang phục và vật dụng mang theo: Ngoài mặc áo vest màu đen, quần dài màu xanh, bên trong mặc áo sơ mi dài tay và áo phông cộc tay màu trắng, mặc quần đùi màu xanh, hai tay, hai chân đi tất màu trắng.

Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:

- Vùng đầu: Tóc hoa dâu, cắt ngắn.

- Hai mắt khép. Hai lỗ tai, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông chảy từ bên trong ra.

- Vùng thái đương phải có vết rách da, kích thước (02x1,5)cm. Xung quanh vết rách có diện sưng nề, bầm tím da, kích thước (09x08)cm.

- Sưng nề, biến dạng thành ngực bên phải. Kiểm tra, sờ nắn thấy: Gãy cung bên xương sườn 3, 4, 5 bên phải, tràn khí dưới da mức độ ít.

- Mặt mu đốt I ngón 1 bàn tay phải có diện rách da, bầm tím, kích thước (4,5x02)cm.

- Mặt trước gối phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (06x2,5)cm.

- Mặt trước ngoài 1/3 dưới cẳng chân phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (09x1,5)cm.

- Mặt mu ngón 1 bàn tay trái có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (5,5x1,2)cm.

- Mặt sau 1/3 giữa cẳng chân trái có diện bầm tím da, kích thước (11x7,7)cm.

- Chọc hút bằng kim tiêm thấy khoang lồng ngực phải có nhiều máu không đông.

* Khám trong: Giải phẫu tử thi phẫu tích qua vết thương vùng thái dương phải thấy:

- Sưng nề, bầm tụ máu tổ chức dưới da đầu và cơ thái dương phải. Lóc tổ chức dưới da đầu xung quanh vết thương.

- Nứt vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng thái dương phải, phần đo được kích thước (02x1,5)cm, qua đường vỡ máu đỏ vẫn chảy ra.

Tại Bản kết luận giám định số: 1508A/KL-KTHS ngày 02 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Nguyên nhân chết của ông Thân Văn P: Đa chấn thương: Chấn thương sọ não nặng; chấn thương ngực kín do tai nạn giao thông.

- Cơ chế hình thành các thương tích:

+ Các tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát, rách da do tiếp xúc với vật tày, bề mặt không nhẵn tác động tạo nên.

+ Các tổn thương nứt vỡ phức tạp xương hộp sọ; biến dạng, gãy xương ngực do tiếp xúc với vật tày tác động với lực rất mạnh tạo nên.

Ngày 16/11/2020, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Công ty cổ phần đường sắt Hà Lạng, thành phố Bắc Giang thu giữ 01 đoạn video clip ghi lại toàn bộ diễn biến vụ tai nạn giao thông. Ngày 13/5/2021, Cơ quan điều tra đã cho bị cáo Dương Đức C xem lại đoạn video clip trên và sau khi xem lại bị cáo khẳng định nội dung thể hiện diễn biến vụ tại nạn giao thông ngày 20/10/2020 là đúng.

Tại bản Cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 24/8/2021 của VKSND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 – BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thấy được tội lỗi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKS sau khi phân tích tính chất của vụ án và giữ nguyên quan điểm truy tố của bản Cáo trạng, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Dương Đức C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65- BLHS; xử phạt Dương Đức C từ 16 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc Dương Văn C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truytố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Dương Đức C có Giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 15/11/2018. Khoảng 10 giờ ngày 20/10/2020, tại khu vực ngã tư Đình Trám giữa đường Quốc lộ 37 với đường tỉnh lộ 295B thuộc địa phận thôn Hùng Lãm, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; Dương Đức C điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, màu sơn xanh, biển kiểm soát 20C- 192.81 do thiếu chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, không chấp hành hệ thống biển báo (vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11; khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải) nên Cừ đã để cho phần đầu bên phải xe ô tô do mình điều khiển va chạm vào sườn bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn xanh, biển kiểm soát 99FA- 3316 do ông Thân Văn P, sinh năm 1952, trú tại: tổ dân phố M 3, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang điểu khiển trong khu vực ngã tư. Hậu quả làm ông P bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 110, sau đó tử vong cùng ngày. Do đó bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 – Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 142/CT- VKS ngày 24/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Đức C về tội danh và điều luật như viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến tính mạng người khác, bị cáo được trang bị kiến thức cơ bản về luật giao thông đường bộ, có giấy phép lái xe theo quy định nhưng thiếu ý thức trong việc chấp hành pháp luật khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, đã vi phạm trật tự an toàn giao thông công cộng, vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Chính hành vi của bị cáo đã gây ra tai nạn làm cho ông Thân Văn P bị chết. Do đó phải xử lý bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền 100.000.000đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo đồng thời có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hơn nữa trong vụ án này có một phần lỗi của người bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp pháp luật.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, ông Dương Văn Đ không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 20C-192.8101 là của ông Dương Văn Đ sinh năm 1974, trú tại xóm Giàn, xã Tân Hoà, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Dương Đức Cừ và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 99FA- 3316 là của ông Thân Văn P. Ngày 01/2/2021 và ngày 14/7/2021 Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cho ông Đ, trả lại xe mô tô cho đại diện hợp pháp bị hại là anh Thân Văn H. Ngày 02/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên trả lại giấy phép lái xe ô tô trên cho bị cáo Dương Đức C xét thấy là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

(1) Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 – Bộ luật hình sự.

Xử phạt Dương Đức C 01 năm 04 tháng (Một năm bốn tháng) tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 08 tháng (Hai năm tám tháng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Văn C cho UBND xã T, huyện P, tỉnh T giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

(2) Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 – BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc Dương Đức C phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

(3) Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333, 334- BLTTHS.

Báo cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ