vanban.org

Bản án 146/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 17/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị D phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị D 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐB - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị D phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 321 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2020/HS-ST
Ngày: 17/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thành

Ông Nguyễn Đình Đạt

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 151/2020/TLST-HS ngày 22/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2020/QĐXXST-HS ngày 02/6/2020 đối với bị cáo: TRỊNH THỊ D , sinh năm 1985; HKTT: Tổ D, phường T, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số nhà V, ngõ B, phố N, tổ N, phường N, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn D và bà Vũ Thị G; Chồng là: Nguyễn Quang T (đã ly hôn), có 3 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 162 lập ngày 06/2/2020 do Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo khởi tố tại ngoại, có mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 13/12/2019 đến 25/12/2019, Trịnh Thị D ngồi bán số lô, số đề cho khách tại quán bán nước trước của nhà số 219 đường Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội cho khách có nhu cầu đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề. D ghi lại các số lô, số đề vào một quyển sổ nhỏ, còn tờ tích kê bản chính thì giao cho khách. D không chuyển cho ai mà tự ôm các số lô, số đề này. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, D so kết quả, nếu khách trúng thưởng thì tự trả thưởng cho khách. Nếu khách không trúng thưởng thì D thu lời số tiền khách đã dùng để mua số lô, số đề. Khoảng 17h45’ ngày 25/12/2019, D có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn Thắng số lô gồm: 39 x 40N (tương ứng với số tiền 900.000 đồng); và các số đề: 39, 40, 44 x 50N (tương ứng với số tiền 150.000 đồng), tổng cộng hết 1.050.000 đồng. Trong khi Thắng đưa tiền cho D và D đưa 02 tờ tích kê cho Thắng thì bị tổ công tác Công an phường Ngọc Lâm bắt quả tang. Ngoài ra, trong ngày 25/12/2019 D đã bán số lô, số đề cho 7-8 khách với số tổng số tiền dùng để đánh bạc là 6.902.000 đồng.

Cách xác định thắng, thua dựa trên 02 số cuối của kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày bán, cụ thể như sau:

Đối với số đề khách mua bao nhiêu tiền thì D thu tiền bấy nhiêu. Nếu số khách mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt của kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì D bị thua và phải trả cho trả khách gấp 80 lần số tiền khách đã bỏ ra để mua.

Đối với lô thường, D bán cho khách 23.000 đồng/1 điểm (trường hợp khách mua nhiều hoặc muốn giữ quan hệ với khách D tính 22.500 đồng/1 điểm). Nếu số khách mua trùng với 02 số cuối của bất kì giải nào của kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày bán thì D trả khách 80.000 đồng/1 điểm lô.

Đối với số lô xiên 2, lô xiên 3 và lô xiên 4, D thu của khách 10.000 đồng/1 điểm lô xiên, khách mua lô xiên bao nhiêu thì sẽ chọn bấy nhiêu con số. Nếu các con số khách mua trùng với 02 số cuối của bất kì giải nào của kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc cùng ngày bán trúng lô xiên thì D phải trả cho khách số tiền với tỉ lệ như sau: gấp 10 lần số tiền khách bỏ ra để mua lô xiên 2; gấp 40 lần số tiền khách bỏ ra để mua lô xiên 3; gấp 100 lần số tiền khách bỏ ra để mua lô xiên 4.

Tại bản kết luận giám định số 736/C09-P5 ngày 06 tháng 03 năm 2020 của Viện khoa học hình sự, kết luận:

- Chữ ký trên mẫu cần giám định (Ký hiệu từ A1 là sổ ghi số lô, số đề thu giữ của Trịnh Thị D ngày 25/12/2019) so với chữ ký của Trịnh Thị D trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2 là các bản giải trình số lô, số đề của D ngày 25/12/2019) do cùng một người ký ra.

- Chữ viết trên mẫu cần giám định (Ký hiệu từ A1, A2, A3 là sổ ghi số lô, số đề thu giữ của Trịnh Thị D và 02 tờ tích kê ghi số lô số đề ngày 25/12/2019 thu giữ của Nguyễn Văn Thắng) so với chữ viết của Trịnh Thị D trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M1, M2 là các bản giải trình số lô, số đề của D ngày 25/12/2019) do cùng một người viết ra.

Trịnh Thị D và Nguyễn Văn Thắng bị bắt trước giờ mở thưởng kết quả sổ xố Miền Bắc ngày 25/12/2019, do vậy căn cứ vào Điểm b, Khoản 5.2, Điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự 1999 thì số tiền Trịnh Thị D sử dụng để đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự vào ngày 25/12/2019 là 6.902.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 154/CT-VKS-LB ngày 20/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trịnh Thị D về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội D bản cáo trạng đã truy tố và khẳng định không bị oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa có đủ căn cứ bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nên giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị D mức án từ 8-10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16-20 tháng. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng đối với bị cáo. Về tang vật: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.902.000đồng. Trả cho bị cáo 71 tờ của quyển ghi số lô tô.

Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo một mình nuôi 3 con nhỏ để giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, người làm chứng, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội D Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17h45phút, ngày 25/12/2019, tại khu vực trước của nhà số 219 đường Ngọc Lâm, thuộc phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, tổ công tác Công an phường Ngọc Lâm phát hiện bắt quả tang Trịnh Thị D có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề. Tổng số tiền D dùng đánh bạc là 6.902.000 đồng.

Hành vi của Trịnh Thị D có đủ dấu hiệu cấu thành tội: Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn quận Long Biên.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã ly hôn, một mình nuôi 3 con nhỏ trong đó 1 con chưa được 12 tháng tuổi vì vậy HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX thấy cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ sức giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về biện pháp tư pháp: Số tiền 6.902.000đồng bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với 71 tờ trong quyển sổ ghi số lô không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với hành vi D khai bán lô đề cho khách từ ngày 13/12/2019 đến 24/12/2019 ngoài lời khai của D không tài liệu, chứng cứ chứng minh do đó không có căn cứ xem xét xử lý đối với D .

Đối với đối tượng Nguyễn Văn Thắng: Ngày 25/12/2019, Thắng đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô đề của Trịnh Thị D , tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.050.000đồng. Nhân thân Nguyễn Văn Thắng có 01 tiền án: Bản án số 52/2017/HSST ngày 23/03/2017, Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc. Đã nộp án phí ngày 23/03/2017. Thắng đã được xóa án tích nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Công an quận Long Biên đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn Thắng về hành vi “Mua các số lô, số đề” quy định tại Khoản 1 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ với mức phạt tiền đối với Thắng là 350.000 đồng là có căn cứ.

Đối với các khách mua số lô số đề ngày 25/12/2019 của D , D khai D khai không rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị D phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Thị D 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.902.000đồng. Trả lại bị cáo 71 tờ của quyển sổ ghi số lô tô có số seri từ 024229 đến 024299. Tiền và tang vật trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 14/5/2020 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2020.

3. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ