- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A S (X) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sồng A S (tên gọi khác Sồng A X) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 146/2019/HS-ST Ngày 12/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hương Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Sồng A S (tên gọi khác Sồng A X), sinh năm 1978, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sồng A Ư (đã chết) và bà Mùa Thị C; bị cáo có vợ thứ nhất là Lù Thị C (đã ly hôn), vợ thứ hai là Giàng Thị D và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/8/2004 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, 02 năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai tội là 09 năm tù giam. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2010 (đã được xóa án tích). Ngày 09/4/2015 Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 34 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2016 (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/4/2019 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 29/4/2019, tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Sồng A S (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Sồng A S đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 02 gói giấy bạc màu vàng. Trong đó gói thứ nhất bên trong đựng 02 viên nén màu hồng, gói thứ hai đựng cục chất bột màu trắng. Sồng A S khai hai viên nén màu hồng là Methamphetamine, và cục chất bột màu trắng là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng;
Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải Sồng A S về Công an huyện M để điều tra làm rõ,
Ngày 29/4/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với VKSND huyện M và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy của Sồng A S, kết quả: 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,19 gam, lấy 01 viên có khối lượng 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu “S1”. Chất bột màu trắng có khối lượng 0,29 gam, lấy 0,1 gam làm mẫu giám định ký hiệu “D1”. Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 841 ngày 02/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu S1 là ma túy, loại chất Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu D1 là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,19 gam loại Methamphetamine và 0,29 gam loại Heroine;
Quá trình điều tra Sồng A S khai nhận: Sồng A S là đối tượng nghiện chất ma túy đang làm thuê tại thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Ngày 29 tháng 4 năm 2019 S đi xe khách từ thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đi về nhà. Khi đi đến tiểu khu C, thị trấn N, huyện M S xuống xe, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. S đi bộ ở đường dân sinh thuộc tiểu khu C, thị trấn N, huyện M thì gặp một cháu gái người dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua trao đổi, S hỏi và mua được của cháu gái đó 02 gói giấy bạc màu vàng, trong đó gói thứ nhất bên trong đựng 02 viên Methamphetamine, gói thứ hai bên trong đựng Heroine với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy, S cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi vào một căn nhà bỏ hoang để tìm dụng cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại tiểu khu C, thị trấn N, huyện M vào căn nhà bỏ hoang trên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Bản cáo trạng số: 143/CT-VKSMC ngày 01 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Sồng A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M giữ nguyên quan điểm truy tố Sồng A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Sồng A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Sồng A S từ 21 tháng đến 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng A S.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Sồng A S thừa nhận: Hồi 17 giờ 00 phút ngày 29/4/2019, Sồng A S đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,29 gam Heroine và 0,19 gam Methamphetamine. Căn cứ Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine thu giữ của Sồng A S là 0,29 gam + 0,19 gam = 0,48 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Sồng A S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, ngày 24/8/2004 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, 02 năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai tội là 09 năm tù giam. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2010. Áp dụng khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 đã được xóa án tích. Ngày 09/4/2015 Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xử phạt 34 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2016, đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Sồng A S, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với cháu gái người dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Sồng A S (tên gọi khác Sồng A X) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Sồng A S (Sồng A X) 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 29/4/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Sồng A S, bắt ngày 29/4/2019: Bên trong đựng 0,1 gam Methamphetamine và 0,19 gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Sồng A S, sn: 1978, ngày 30/4/2019. KQ: Dương tính. Bên trong phong bì đựng test thử ma túy của Sồng A S.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Sồng A S (Sồng A X) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 12/8/2019.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện M; - Công an huyện M; - THAHS; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện M; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trung Kiên |