- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Nguyễn văn Thụ tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2019/HS-ST Ngày 29-10-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi và bà Thân Thị Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2019/TLST-HS, ngày 27 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày: 06/3/1971 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H (Đã chết) và bà: Phạm Thị S, sinh năm: 1932; có vợ là: Dương Thị N, sinh năm: 1972 và có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 1999.
Tiền án: Có 01 tiền án:
- Tại bản án số 91/2017/HSST ngày 29/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Tại Bản án số 21/2011/HSST ngày 14/09/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2019 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
1
- Người chứng kiến:
1. Anh Dương Đình B, sinh năm: 1978;
Nơi thường trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Ông Dương Đình D, sinh năm: 1957;
Nơi thường trú: Xóm B, xã T, huyện Phú B, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 24/08/2019, tổ công tác Công an huyện Phú Bình phối hợp cùng với Công an xã T, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm V, xã T thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông trên khai tên là Nguyễn Văn T, sinh năm: 1971; Trú quán xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và T tự giác lấy ra từ trong túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc 01(một) gói giấy bạc màu trắng (T khai nhận đây là ma túy Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (ký hiệu A) và đưa T về trụ sở Công an để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 08 giờ 30 phút ngày 25/08/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phú Bình đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nhà và chỗ ở của Nguyễn Văn T tại xóm T, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật.
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 24/08/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phú Bình phối hợp cùng phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong (ký hiệu A) thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng là 0,347 gam (không phẩy ba trăm bốn mươi bẩy gam) và lấy toàn bộ 0,347 gam niêm phong vào bì thư (ký hiệu A1) gửi Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 1223/KL-KTHS ngày 01/09/2019 của phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong mẫu A1 thu giữ của Nguyễn Văn T gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,347 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Bản thân T là người nghiện ma túy nên phải thường xuyên đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/08/2019, T đi cùng Lê Văn Đ là người cùng xóm đi lên khu vực xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy với mục đích để sử dụng, trên đường đi T đưa cho Đ 52.000 đồng (Năm mươi hai nghìn đồng) để góp tiền mua ma túy. Tại đây, Đ và T gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ cụ
2
thể và mua được của người này 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy thì cả hai đi về đến khu vực xóm V, xã T thì Đ đưa gói ma túy cho T giữ rồi đi vào quán hàng ven đường, T cầm gói ma túy cất vào túi áo ngực đang mặc rồi đi tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSPB, ngày 25/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo T khai nhận được tóm tắt như sau: Bản thân nghiện chất ma túy từ năm 2010, đến khoảng cuối tháng 5/2019 bị cáo chấp hành xong án phạt tù về địa phương, tuy nhiên một thời gian sau bị cáo lại tiếp tục sử dụng ma túy. Khoảng 15 giờ 00 ngày 24/8/2019, bị cáo đi cùng anh Lê Văn Đ là người cùng xóm lên khu vực xã T, huyện P để mua ma túy Heroine sử dụng, trên đường đi bị cáo đã đưa cho Đ số tiền 52.000 đồng để góp tiền mua ma túy. Sau đó khi mua được ma túy, Độ đưa cho bị cáo một gói ma túy, còn Đ đi đâu đó, bị cáo đã cất gói ma túy vào túi áo ngực bên trái phía trước đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng, Tuy nhiên, bị cáo chưa kịp sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Phú Bình bắt quả tang thu giữ 01 gói ma túy nêu trên.
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, vì bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,347 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.
Đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo từ 30-36 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
3
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, vì đã phù hợp với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận:
Bị cáo Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2010, sau khi chấp hành xong án phạt tù về địa phương (ngày 14/5/2019) được một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục sử dụng ma túy, nên bị cáo thường đi tìm mua ma túy về sử dụng. Khoảng 15 giờ 00 ngày 24-8-2019, bị cáo đã góp số tiền 52.000 đồng cùng với Lê Văn Đ là người cùng xóm đến khu vực xã T, huyện P để mua ma túy sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Lê Văn Đ đưa cho bị cáo một gói ma túy vừa mua nêu trên, khi bị cáo đang định đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Phú Bình bắt quả tang thu giữ vật chứng là một gói ma túy vừa mua nêu trên, qua giám định là Heroine, có khối lượng là: 0,347 gam.
Bị cáo T thừa nhận gói ma túy Heroine bị thu giữ trên là của bị cáo góp tiền cùng với Lê Văn Đ mua về cùng với mục đích để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 249 của BLHS quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất ma tuý, hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý theo quy định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
4
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Ngày 29/8/2017 bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điều 70 của BLHS thì bị cáo chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị xử phạt tù nhiều lần về hành vi có cùng tính chất, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, điều này thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa ma túy Heroine mẫu hoàn lại sau giám định, xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của Pháp luật cần chấp nhận.
Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
Về nguồn gốc số ma túy đã bị thu giữ, bị cáo khai nhận là góp tiền cùng Lê Văn Đ mua của một người đàn ông không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể ở khu vực khu xã T, huyện P nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với Lê Văn Đ, theo bị cáo khai là người cùng góp tiền để mua ma túy. Quá trình điều tra xác định hiện Đ không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai của bị cáo T ra không có tài liệu khác để chứng minh hành vi trên của Đ nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Phú Bình không xử lý.
5
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu một khoản án phí sung quỹ Nhà nước theo quy định và được quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2019.
2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 249 của BLHS năm 2015.
3. Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,326 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định;
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-10-2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
5. Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên; - VKSND, THADS huyện Phú Bình; - Công an huyện Phú Bình; - Bị cáo; - Lưu HSVA. 6 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |