- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Viết B phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2018/HS-ST Ngày 17 - 10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Văn Chắt
Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Thanh
Ông Trần Đình Đường
Bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Viết B; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 16 tháng 5 năm 1989; trú tại: Xóm 3, xã Diễn Thành, Diễn Châu, Nghệ An; chỗ ở: Xóm 10, xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Đức H (đã chết) và bà Đặng Thị Q; vợ: Vũ Thị Thcon: Trần Bảo Th; sinh năm 2014.
Tiền án: Ngày 29/8/2014, TAND huyện Dxử 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2017.
Nhân thân: Ngày 13/02/2009, TAND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 30/8/2010.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Viết B: Luật sư Ngô Đình Q, Công ty Luật TNHH MTV M, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 22/3/2018, Trần Viết B đi xe khách từ ngã tư thị trấn huyện Dđến khu vực rừng cây Săng Lẻ thuộc xã T, huyện Ttìm gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 120 triệu đồng tiền ma túy tổng hợp dạng đá. Sau khi mua được ma túy, B đưa về nhà trọ (tại xóm 10, xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu) cất dấu để sử dụng. Khi về đến nhà, B đưa ma túy vào phòng số 2 của ki ốt số 2 chia nhỏ ra và cất dấu như sau: B chia ra nhiều gói ma túy rồi bỏ trong chiếc áo màu xám kẻ sọc đen treo trên móc quần áo ở tường nhà. Số ma túy còn lại B gói trong túi vải áo mưa có chữ “Thủ đô vàng” và treo ở móc quần áo trên tường nhà. Hàng ngày, B lấy ma túy ở trong chiếc áo màu xám kẻ sọc đen để sử dụng. Quá trình sử dụng còn thừa một gói ma túy thì B cất trong tủ đồ của căn phòng số 2 ki ốt số 1.
Khoảng 17 giờ ngày 01/4/2018, B lấy 2 gói ma túy được bọc ni lông màu trắng, màu xanh ở trong chiếc áo màu xám kẻ sọc đen. Từ nhà trọ của mình, B thuê xe taxi đi đến nhà nghỉ để sử dụng ma túy. Khi B đang chuẩn bị lên xe thì bị tổ công tác Công an huyện Đ kiểm tra. Khi thấy tổ công tác thì B vứt 1 gói ni lông màu trắng và 1 gói ni lông màu đen xuống đường để tẩu tán tang vật, tránh bị phát hiện. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ 2 gói ni lông B vừa vứt, kiểm tra bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy). Tổ công tác đã mời người chứng kiến, thu giữ vật chứng và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Viết B tại xóm 10, xã D, huyện D, thu giữ gồm:
+ Phòng số 2 ki ốt số 1: Thu trong tủ đựng đồ một gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy).
+ Phòng số 2 của ki ốt số 2: Thu trong áo màu xám kẻ sọc đen treo trên móc quần áo ở tường 16 gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy). Thu trên móc quần áo ở tường 01 túi vải áo mưa có chữ “Thủ đô vàng” bên trong đựng một gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy).
+ Thu giữ tại chỗ ở nhiều gói ni lông màu trắng, nhiều ống hút B nhựa màu đen, một bộ dụng cụ sử dụng ma túy (dụng cụ tự chế).
Tổ công tác dẫn giải Trần Viết B cùng vật chứng về trụ sở để điều tra làm rõ.
Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 02/4/2018 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và kết luận giám định số 477/KL-PC54(MT) ngày 09/4/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nghệ an kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Viết B là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 97,718 gam và chất tinh thể màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Viết B là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 563,608 gam.
Vật chứng của vụ án gồm:
+ 661,326 gam ma túy (Methamphetamine).
+ 01 (một) phong bì màu nâu vàng Công an huyện Đ niêm phong dán kín (đánh số 1). Bề mặt ghi: Các túi ni lông màu trắng nhỏ và 01 cóng thủy tinh
+ 01 (một) phong bì màu nâu vàng Công an huyện Đô Lương niêm phong dán kín (đánh số 2). Bề mặt ghi: 2 túi ni lông màu trắng to, bên trong mỗi túi có chứa các túi ni lông màu trắng nhỏ.
+ 01 (một) phong bì màu nâu vàng Công an huyện Đ niêm phong dán kín (đánh số 3). Bề mặt ghi: 1 túi ni lông màu đen, bên trong chứa nhiều túi ni lông nhỏ màu trắng.
+ 01 (một) phong bì màu nâu vàng Công an huyện Đ niêm phong dán kín (đánh số 5). Bề mặt ghi: 9 túi ni lông nhỏ màu trắng kích thước giống nhau.
+ 01 (một) phong bì màu nâu vàng Công an huyện Đ niêm phong dán kín (đánh số 8). Bề mặt ghi: Vật chứng 1 túi ni lông màu vàng nhạt.
+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tự chế) gồm: một vỏ chai nhựa, một vòi nhựa vàng và 1 ống thủy tinh.
+ 01 (một) hộp nhựa màu đen - trắng đã niêm phong. Bên trong có nhiều ống hút màu đen.
Tại Bản cáo trạng số 149 /CT/VKS-P1 ngày 11/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Trần Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Viết B 20 năm tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Viết B không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của Luật sư, không có ý kiến gì tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 22/3/2018, Trần Viết B đến huyện T, tỉnh Nghệ An mua của một người đàn ông không quen biết 120 triệu tiền ma túy để về cất dấu sử dụng. Ngày 01/4/2018, B mang 97,718 gam ma túy đến nhà nghỉ để sử dụng thì bị bắt quả tang. Quá trình khám xét chỗ ở của B, Cơ quan CSĐT thu giữ 563,608 gam ma túy do B đang cất dấu để sử dụng. Như vậy, Trần Viết B đã có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng 661,326 gam ma túy (Methamphetamine). Như vậy, có đủ cơ sở kết luận Trần Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vi phạm điểm b khoản 4 điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Hành vi của bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta về chất ma túy, gây tác hại nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội, sức khỏe của con người, làm suy thoái giống nòi, phá hoại kinh tế và hạnh phúc gia đình đồng thời là tác nhân lây lan nạn dịch HIV. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giấu ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hiện nhằm để thỏa mãn cơn nghiện của mình. Bị cáo có nhân thân xấu và hiện tại đang có tiền án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó cần phải xử phạt nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị và cải tạo bị cáo thành người có ích đồng thời răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo do bị cáo B không biết tên tuổi, địa chỉ của người đó nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ xác minh làm rõ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo chưa thu lợi bất chính, không có nghề nghiệp ổn định, gia đình hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và các vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 249, điểm s khoản 1điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Viết B 20 năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/4/2018.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 72,568 gam Methamphetamine đựng trong phong bì màu nâu vàng (đã lấy 25,15 gam giám định) và 529,266 gam Methamphetamine đựng trong túi vải ni lông màu đen (đã lấy 34,342 gam giám định); 06 (sáu) bao lông màu trắng và 01 ống thủy tinh (cóng); 02 (hai) túi ni lông màu trắng đựng 40 bao ni lông màu trắng; 01 (một) bao ni lông màu đen đựng 30 bao ni lông màu trắng; 09 (chín) bao ni lông màu trắng; 01(một) bao ni lông màu vàng có chữ Trung Quốc và chữ nước ngoài; 01 (một) bộ sử dụng ma túy tự chế gồm: một vỏ chai nhựa, một vòi nhựa và 01 (một) vòi ống thủy tinh; 01 (một) hộp nhựa màu đen- trắng trong suốt bên trong có nhiều ống hút B nhựa, màu đen.
Đặc điểm tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 12/9/2018.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Viết B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - Bị cáo, Luật sư; - UBND xã D, h.D; - Lưu: HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Văn Chắt |