- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh H "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh H (N), Nguyễn Quang M (M chó săn), Nguyễn Lê Vĩnh Th (Th bánh mì), Lâm Bảo C (C lé), Nguyễn Phi L (Lix).
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 146/2018/HS-PT Ngày : 01 - 11 -2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn
Các Thẩm phán:
1. Ông Hoàng Ngọc Linh
2. Ông Cao Minh Lễ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2018/TLPT-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Tô Di L, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C, Nguyễn Phi L do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Trần Thanh H (N), sinh năm: 1989, tại tỉnh An Giang. Trú tại: Ấp B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Trần Thanh D, sinh năm 1968 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giam từ ngày 10/10/2017 đến nay.
2.Họ và tên: Nguyễn Quang M (M chó săn), sinh năm: 1991, tại tỉnh An Giang. Trú tại: Ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 và bà Phùng Thị Bạch N, sinh năm 1968; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giam từ ngày 09/11/2017 đến nay.
3. Họ và tên: Tô Di L (L max), sinh năm: 1978, tại tỉnh An Giang. Trú tại: Ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 5/12; con ông Tô Văn N, sinh năm 1951 và bà Di Thị Bích N, sinh năm 1956; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giữ từ ngày 03/01/2018 đến nay.
4. Họ và tên: Nguyễn Lê Vĩnh Th (Th bánh mì), sinh năm: 1996, tại tỉnh An Giang. Trú tại: Ấp B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1958 và bà Lê Thị N, sinh năm 1964; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giam từ ngày 10/10/2017 đến nay.
5. Họ và tên: Lâm Bảo C (C lé), sinh năm: 1995, tại tỉnh An Giang. Trú tại: Ấp B, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Lâm Kim B, sinh năm 1973 và bà Đoàn Thị Thùy N, sinh năm 1975; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giam từ ngày 10/10/2017 đến nay.
6. Họ và tên: Nguyễn Phi L (Lix), sinh năm: 1989, tại tỉnh An Giang. Trú tại: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn Văn L sinh năm 1963 và bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1989 (không đăng ký kết hôn); con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền sự, tiền án: Không. Bị tạm giam từ ngày 10/11/2017 đến nay.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 10/10/2017, lực lượng Công an huyện Châu Phú kiểm tra nhà của Trần Thanh H (N) thuộc ấp Bình Hòa, thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú, phát hiện bắt quả tang Trần Thanh H (N), Trần Thanh Tùng, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C và Đào Văn Hcó hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ trên bàn ở phòng khách 01 bọc nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma túy đá (Methamphetamine) và ở phòng ngủ của H 02 bọc nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma túy đá (Methamphetamine). H thừa nhận 02 bọc nilon chứa ma túy đá của H, Tùng thừa nhận 01 bọc nilon chứa ma túy đá của Tùng. Qua điều tra ban đầu H thừa nhận đã nhiều lần bán ma túy đá cho các đối tượng nghiện ma túy và nhờ Th, C đem giao bán ma túy đá giùm. Th và C thừa nhận đã nhiều lần đem giao bán ma túy đá giùm cho H.
Tang vật thu giữ gồm: 02 (hai) bọc nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma túy đã được niêm phong ký hiệu M1; 01 (một) bọc nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma túy đã được niêm phong ký hiệu M2; 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa được vạt nhọn một đầu; 01 (một) điện thoại di động màu trắng có sim số 01688.702623 của C; 01 (một) điện thoại di động màu đen có sim số 0963.231321 của H; 01 (một) điện thoại di động màu đen có sim số 01675.882082 của Đào Văn H1; 01 (một) điện thoại di động màu đen của Th; 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 03 (ba) hộp quẹt gas; 01 (một) vỏ chai nhựa sting trên nắp có cái nỏ và ống hút nhựa; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) bóp da màu nâu bên trong có 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng.
Ngày 19/10/2017, Trần Thanh H (N), Lâm Bảo C (C lé), và Nguyễn Lê Vĩnh Th (Bánh mì) bị khởi tố để điều tra. Từ lời khai của H, C và Th, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú tiến hành bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Quang M, Nguyễn Phi L, Ngô Hợp Th, Phan Thị Ánh L và tiến hành bắt bị can để tạm giam đối với Tô Di L và thu giữ ma túy cùng các tang vật khác.
Tại hồ sơ, các bị cáo khai nhận:
- Trần Thanh H (N) khai: Từ năm 2011 đến năm 2017, Hmua ma túy đá của các đối tượng để sử dụng và bán lại cho những người nghiện, cụ thể:
+ Mua của Hồ Kim Minh P khoảng 50 lần, tổng cộng 50 bọc ma túy đá, giá từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/01 bọc, thành tiền khoảng 20.000.000 đồng; Tô Di L 03 lần, tổng cộng 30 số ma túy đá, giá 100.000 đồng/01 số = 3.000.000 đồng; Nguyễn Phi L 03 lần, tổng cộng 40 số ma túy đá, giá 100.000 đồng/01 số = 4.000.000 đồng; Ngô Hợp Th 05 lần, tổng cộng 50 số, giá 120.000 đồng/01 số và 01 lần 10 số, giá 150.000 đồng/01 số, thành tiền khoảng 7.500.000 đồng; Nguyễn Quang M 06 lần, tổng cộng 50 số, giá 120.000 đồng/01 số, thành tiền khoảng 6.000.000 đồng; Võ Thị Y P 05 lần, tổng cộng 25 số, giá 120.000 đồng/01 số, thành tiền khoảng 3.000.000 đồng; Bùi Thị Cẩm H 01 lần, tổng cộng 25 số, giá 100.000 đồng/01 số, thành tiền khoảng 2.500.000 đồng.
+ Bán cho Nguyễn Lê Vĩnh Th 03 lần, tổng cộng 03 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc, thành tiền 600.000 đồng; Lâm Bảo C 02 lần, tổng cộng 02 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc, thành tiền 400.000 đồng; Nguyễn Phước S (S Beo) 02 lần, tổng cộng 02 bọc, giá 300.000 đồng/01 bọc, thành tiền 600.000 đồng (trong đó, H nhờ Th đi giao bán 01 lần/01 bọc và C bán 01 lần/01 bọc cho S); Phạm Tùng C 01 lần, tổng cộng 01 bọc với giá 500.000 đồng; Trương Văn D (D Bọng) 04 lần, tổng cộng 04 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc, thành tiền 800.000 đồng; Đinh Minh T (T Cao) 02 lần, tổng cộng 02 bọc, giá 300.000 đồng/01 bọc, thành tiền 600.000 đồng; Dương Ngộ Đ (6 Hổ) 03 lần, tổng cộng 03 bọc, giá 300.000 đồng/01 bọc, thành tiền 900.000 đồng; Phan Chí B (B Bò) 10 lần với số tiền khoảng 5.500.000 đồng; Nguyễn Văn G (B Vịt) 04 lần, tổng cộng 04 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc, thành tiền 800.000 đồng và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) như: S (Bóng) 01 lần với số tiền 300.000 đồng; T 03 lần với số tiền 700.000 đồng; M 03 lần với số tiền 900.000 đồng; T 02 lần với số tiền 500.000 đồng; H 03 lần với số tiền 1.800.000 đồng; V 04 lần với số tiền 700.000 đồng; N 03 lần với số tiền 900.000 đồng; T 04 lần, tổng cộng 04 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc, thành tiền 800.000 đồng; P 01 lần với số tiền 500.000 đồng; H 01 lần với số tiền 2.500.000 đồng; T 03 lần với số tiền 3.000.000 đồng; T 07 lần với số tiền 2.800.000 đồng; L 01 lần với số tiền 300.000 đồng. Tổng cộng H bán ma túy đá (Methamphetamine) cho những người nghiện được khoảng 64 lần, thu được khoảng 23.400.000 đồng. Ngoài ra, H còn nhờ Th và C đi giao bán ma túy cho những người nghiện (không rõ họ tên và địa chỉ) nhiều lần.
- Phan Thị Ánh L (L đạm) khai: Đầu năm 2017 đến ngày 13/12/2017, L mua ma túy đá của các đối tượng để sử dụng và bán lại cho những người nghiện, cụ thể:
+ Mua của Tô Di L (L max) 02 lần với số tiền 560.000 đồng (trong đó có lần mua cùng H lửa và đưa thiếu 40.000 đồng); Nguyễn Quang M 02 lần với số tiền 550.000 đồng; Võ Thị Y P 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Ngô Hợp Th 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Trần Thanh H (N) 02 lần với số tiền 600.000 đồng; ngoài ra L còn mua của P (không rõ họ và địa chỉ) rất nhiều lần.
+ Bán cho Ngô Hợp Th 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Võ Thị Y P 03 lần với số tiền 900.000 đồng; Nguyễn Thanh T (Toán) 40 lần, tổng cộng 40 bọc ma túy đá, giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/01 bọc, thành tiền khoảng 10.000.000 đồng; Nguyễn Bá D 03 lần với số tiền 900.000 đồng; Tăng Thị Thu L 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Trần Thị Cẩm T 02 lần với số tiền 400.000 đồng và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ) như: Đ (Đen) 01 lần với số tiền 200.000 đồng; T 01 lần với số tiền 300.000 đồng. Tổng cộng L (L đạm) bán ma túy đá (Methamphetamine) cho những người nghiện được khoảng 52 lần, thu được khoảng 13.300.000 đồng.
- Ngô Hợp Th khai: Từ năm 2013 đến năm 2017, Th mua ma túy đá của các đối tượng để sử dụng và bán lại cho những người nghiện, cụ thể:
+ Mua của Nguyễn Quang M 04 lần, tổng cộng 04 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc, thành tiền 800.000 đồng; Trần Thanh H (N) 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Phan Thị Ánh L 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Bùi Thị Cẩm H 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Bo (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) 02 lần với số tiền 6.00.000 đồng; ngoài ra Thi còn mua của Hồ Kim Minh P rất nhiều lần.
+ Bán cho Trần Thanh H (N) 03 lần với số tiền 3.900.000 đồng; Bùi Thị Cẩm H 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Phan Thị Ánh L 01 lần với số tiền 1.000.000 đồng; Nguyễn Quang M 01 lần với số tiền 600.000 đồng; Dương Ngộ Đ (6 Hổ) 02 lần với số tiền 550.000 đồng và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ) như: Q 02 lần với số tiền 1.000.000 đồng; Dg 02 lần với số tiền 600.000 đồng; H (Vy) được khoảng 20 lần số tiền 8.000.000 đồng. Tổng cộng Thi bán ma túy đá (Methamphetamine) cho những người nghiện được khoảng 32 lần, thu được khoảng 15.950.000 đồng.
- Nguyễn Quang M (chó săn) khai: Từ năm 2016 đến năm 2017, M mua ma túy đá của các đối tượng để sử dụng và bán lại cho những người nghiện, cụ thể:
+ Mua của Hồ Kim Minh P 03 lần, tổng cộng 03 bọc, giá 300.000 đồng/01 bọc, thành tiền 900.000 đồng; Trần Thanh H (N) 05 lần với số tiền 1.500.000 đồng; Ngô Hợp Th 02 lần với số tiền 600.000 đồng.
+ Bán cho Võ Thị Y P 03 lần với số tiền 3.600.000 đồng; Trần Thanh H (N) 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Bùi Thị Cẩm H hùn tiền cùng Phan Thị Ánh L 02 lần với số tiền 550.000 đồng; Nguyễn Phước Sang (Sang Beo) 02 lần với số tiền 150.000 đồng; Ngô Hợp Th 01 lần với số tiền 600.000 đồng; Nguyễn Văn G 02 lần với số tiền 600.000 đồng và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ) như: T 02 lần với số tiền 600.000 đồng; Kh 02 lần với số tiền 100.000 đồng. Tổng cộng M bán ma túy đá (Methamphetamine) cho những người nghiện được khoảng 15 lần, thu được khoảng 6.400.000 đồng.
- Nguyễn Lê Vĩnh Th (bánh mì) khai: Trong năm 2017, Th 13 lần đi giao bán ma túy đá (Methamphetamine) giùm Trần Thanh H (N) cho những người nghiện, thu được khoảng 2.300.000 đồng, cụ thể:
Bán cho Phạm Tùng C 01 lần với số tiền 300.000 đồng; Nguyễn Phước S (S Beo) 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Trương Văn D (D Bọng) 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Quang M 01 lần với số tiền 120.000 đồng; Phan Thị Ánh L 01 lần (L tự trả tiền cho H) và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ) như: S (Bóng) 01 lần với số tiền 300.000 đồng; T (Hí) 01 lần (không nhớ rõ số tiền); L 01 lần với số tiền 200.000 đồng; S 01 lần với số tiền 200.000 đồng; H 03 lần với số tiền 600.000 đồng; T (Ka) 01 lần với số tiền 180.000 đồng.
Ngoài ra, do cần ma túy sử dụng, nên có điện thoại Tô Di L (L max) kêu bán 500.000 đồng, Di L kêu Th đến cặp vách Ngân hàng Chính sách huyện Châu Phú giao ma túy. Đến hẹn Th đến gặp Di L đưa 500.000 đồng, Di L đưa lại bịt ma túy đá, Th lấy và đem về nhà sử dụng và có mua của H 03 lần, tổng cộng 03 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc = 600.000 đồng.
- Lâm Bảo C (C lé), khai: Trong năm 2017, C 11 lần đi giao bán ma túy đá (Methamphetamine) giùm Trần Thanh H (N) cho những người nghiện, thu được khoảng 4.400.000 đồng, cụ thể:
Bán cho Dương Ngộ Đ (6 Hổ) 02 lần với số tiền 600.000 đồng; Nguyễn Phước S (S Beo) 01 lần với số tiền 300.000 đồng và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ cụ thể): S 01 lần với số tiền 300.000 đồng; T (Lép) 02 lần với số tiền 1.800.000 đồng; L (sống ở thị trấn Cái Dầu) 01 lần với số tiền 100.000 đồng; L (sống ở xã Vĩnh Thạnh Trung) 01 lần với số tiền 100.000 đồng và 02 người nghiện khác 03 lần với số tiền 1.200.000 đồng.
Ngoài ra, để có ma túy sử dụng riêng, C có mua của H 02 lần = 02 bọc, giá 200.000 đồng/01 bọc = 400.000 đồng.
- Nguyễn Phi L (Lix) khai: Trong năm 2017, L 08 lần mua bán ma túy đá (Methamphetamine) cho những người nghiện, thu được khoảng 4.000.000 đồng, cụ thể:
Bán cho Trần Thanh H (N) 03 lần với số tiền 3.000.000 đồng; Lâm Bảo C 01 lần với số tiền 200.000 đồng và nhiều người nghiện (không rõ họ và địa chỉ) như: Tr lỏ 01 lần với số tiền 200.000 đồng; B bóng 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Đ 02 lần với số tiền 400.000 đồng.
- Đối với bị cáo Tô Di L (L max) thì quá trình điều tra ban đầu Di L khai nhận đã 13 lần mua bán trái phép chất ma túy cho những người nghiện thu được khoảng 8.800.000 đồng, cụ thể:
Bán cho Võ Thị Y P 04 lần với số tiền 2.500.000 đồng; Trần Thanh H (N) 03 lần với số tiền 3.000.000 đồng; Bùi Thị Cẩm H 03 lần với số tiền 1.800.000 đồng; Nguyễn Lê Vĩnh Th 01 lần với số tiền 500.000 đồng; Lý Duy Q (Quắn) 02 lần với số tiền 1.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Châu Phú thu giữ tại nhà L 69,9913 gam Methamphetamine, là của L.
Tuy nhiên, giai đoạn điều tra sau và tại phiên tòa Di L không thừa nhận có hành vi bán ma túy nhiều lần cho những người nghiện như Cáo trạng đã quy kết và số ma túy đá 69,9913 gam Methamphetamine không phải của Di L.
- Theo các Kết luận giám định ngày 16/10/2017, ngày 21/12/2017, ngày 25/12/2017 và ngày 06/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, ghi nhận:
- Tinh thể màu trắng chứa trong 02 (hai) bọc nilon trong suốt hàn kín (kí hiệu M1), được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú và chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Hòa, Võ Minh Hiền, Lê Thị Yến Nhi, Trần Thanh H, gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là: 2,5660 gam, loại: Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín (kí hiệu M2), được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú và chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Hòa, Võ Minh Hiền, Lê Thị Yến Nhi, Trần Thanh Tùng, gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là: 0,4676 gam, loại: Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ; 02 (hai) bọc nilon trong suốt hàn kín có dán băng keo màu vàng; 03 (ba) bọc nilon trong suốt hàn kín có dán băng keo màu xanh và 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín có dán băng keo màu đỏ, tất cả được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú và chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Hòa, Phan Thị Ánh L, Trương Văn Hậu, gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là: 8,6119 gam, loại: Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng chứa trong 02 (hai) bọc nilon trong suốt hàn kín (kí hiệu M), được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú và chữ ký ghi tên Nguyễn Xuân Hòa, Ngô Hợp Th, Nguyễn H Chúc, Nguyễn Thanh Hà, gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là: 0,2179 gam, loại: Methamphetamine.
- 01 (một) gói giấy bên trong có bao thuốc lá hiệu Craven đựng 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn Cái Dầu, huyện Châu Phú và chữ ký ghi tên Võ Hoài Tâm, Nguyễn Kim Được, Tô Di L, gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng là: 69,9913 gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKS.CP ngày 14/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Hùng, Ánh L, Thi, M, Di L, Th, C, Líp ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh H (N), Phan Thị Ánh L (L đạm), Ngô Hợp Th, Nguyễn Quang M (M chó săn), Tô Di L (L max), Nguyễn Lê Vĩnh Th (Th bánh mì), Lâm Bảo C (C lé), Nguyễn Phi L (Lix) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh H (N) 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2017.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phan Thị Ánh L (L đạm) 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt giam bị cáo để thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 13/12/2017 đến ngày 22/12/2017.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngô Hợp Th 07 (bảy) năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án số: 08/2018/HSST, ngày 31/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2018. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ tại Công an huyện Châu Phú (từ ngày 13/12/1017 đến ngày 22/12/2017).
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tô Di L (L max) 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2018.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang M (M chó săn) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/11/2017.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Vĩnh Th (Th bánh mì) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2017.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lâm Bảo C (C lé), 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2017.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi L (Lix) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2017.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/9/2018 các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Tô Di L, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C, Nguyễn Phi L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 19/9/2018 các bị cáo Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C có đơn xin rút kháng cáo.
Ngày 15/10/2018 các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Nguyễn Phi L có đơn xin rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Tô Di L (L max) giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Tô Di L, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C, Nguyễn Phi L đều kháng cáo trong hạn luật định. Tuy nhiên, ngày 19/9/2018 và ngày 15/10/2018 các bị cáo Hùng, M, Th, C, L rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc rút kháng cáo của các bị cáo và xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Tô Di L.
- Về nội dung: Án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án và xét xử bị cáo Tô Di L (L max) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tuyên phạt mức án 08 năm tù là đúng quy định của pháp luật. Giai đoạn điều tra ban đầu, bị cáo L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhưng sau đó bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Tô Di L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Di L, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, có thể giảm 06 tháng tù, tuyên xử bị cáo 07 năm 06 tháng tù cũng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Thời điểm các bị cáo phạm tội thì Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung 2009 đang có hiệu lực pháp luật nhưng khi xét xử sơ thẩm thì Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực pháp luật vào ngày 01/01/2018. Đối chiếu Điều 194 Bộ luật hình sự năm 2009 và Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Điều 194 Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung 2009 có lợi hơn nên cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung 2009 để xét xử là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục xét xử các bị cáo theo điều, khoản Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Tô Di L, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C, Nguyễn Phi L đều kháng cáo trong hạn luật định. Tuy nhiên, ngày 19/9/2018 và ngày 15/10/2018 các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C , Nguyễn Phi L có đơn rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo và giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với đơn kháng cáo của bị cáo Tô Di L.
Xét đơn xin rút kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C , Nguyễn Phi L thì thấy: Đơn rút kháng cáo của các bị cáo được Ban giám thị Trại tạm giam xác nhận là phù hợp với quy định của pháp luật. Việc rút kháng cáo của các bị cáo Hùng, M, Th, C, L là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, nội dung đơn thể hiện các bị cáo thấy được sai phạm của bản thân, đồng ý với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C , Nguyễn Phi L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Di L khai nhận, bị cáo mua ma túy ở Thành phố Hồ Chí M của những người lạ mặt, đem về trực tiếp bán lại cho những người nghiện như Võ Thị Y P, Trần Thanh H (N) và Bùi Thị Cẩm H nhưng bán bao nhiêu lần, số tiền thu lợi bất chính bị cáo không nhớ, nơi giao nhận không cố định. Riêng 69,9913 gram Methamphetamine mà cơ quan điều tra thu giữ tại nhà không phải là của bị cáo. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội. Hoàn cảnh của bị cáo hiện nay khó khăn, còn cha mẹ già yếu, không ai nương tựa, tha thiết xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo quay về gia đình, phụng dưỡng cha mẹ già.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Tô Di L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định và trừng phạt tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này là có căn cứ.
Xét kháng cáo của bị cáo Tô Di L thì thấy: Methamphetamine (hàng đá) là một trong những chất gây nghiện, có tác hại lớn đối với sức khỏe của con người, khi đã sử dụng sẽ gây kích thích mạnh, làm cho người nghiện bị giảm sút tinh thần và khi lên cơn nghiện dễ phát sinh hành vi phạm tội. Mọi hành vi “tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy” đều được xem là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ bị xử lý kịp thời và nghiêm minh bằng pháp luật hình sự. Bị cáo Tô Di L đứng trước phiên tòa hôm nay là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính nuôi sống bản thân và gia đình; bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì hám lợi, muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động vất vả nên cố ý thực hiện mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa P và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình có xem xét đến các tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuyên phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Lẽ ra, phải giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, qua xem xét quá trình điều tra, xét xử tại cấp sơ thẩm, ban đầu bị cáo Tô Di L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, sau đó không thừa nhận, nhưng trong thời gian chờ xét xử và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thấy được tội lỗi của bản thân, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây ra hậu quả cho xã hội nên thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để về phụ giúp gia đình, nuôi dưỡng cha mẹ già yếu. Để thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội thực sự ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 quyết định giảm cho bị cáo một phần hình phạt, có thể giảm cho bị cáo 06 tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
Do đình chỉ yêu cầu kháng cáo, các bị cáo Trần Thanh H, Nguyễn Quang M, Nguyễn Lê Vĩnh Th, Lâm Bảo C, Nguyễn Phi L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Đối với kháng cáo của bị cáo Tô Di L được chấp nhận nên bị cáo L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm g,h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b,đ khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo Trần Thanh H (N), Nguyễn Quang M (M chó săn), Nguyễn Lê Vĩnh Th (Th bánh mì), Lâm Bảo C (C lé), Nguyễn Phi L (Lix).
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tô Di L (L max); Sửa bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Tô Di L (L max) 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2018.
Các bị cáo Trần Thanh H (N), Nguyễn Quang M (M chó săn), Nguyễn Lê Vĩnh Th (Th bánh mì), Lâm Bảo C (C lé), Nguyễn Phi L (Lix) và bị cáo Tô Di L (L max) không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2018/HSST ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Các Thẩm phán
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan
Lý Ngọc Sơn -