vanban.org

Bản án 146/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46; khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Hoàng Văn V 09 (chín) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù tại bản án số 124/2014/HSST ngày 21/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng thành hình… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn V phạm tội “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2017/HSST
Ngày: 26- 12 - 2017
Nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Thuû Nguyªn, thµnh phè h¶i phßng
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Công Hạ
án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng.
tham gia phiên toà: Ông Đào Quang Liêm, Kiểm sát viên.
thẩm V án thụ lý số: 120/2017/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:
Thôn 6, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: thôn 9, xã K, huyện T, thành
phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa: 7/10; con ông Hoàng Văn P
và bà Bùi Thị T (đều đã chết); vợ: Đỗ Thị H sinh năm 1967; có 02 con, lớn sinh
năm 1989, nhỏ sinh năm 1991; tiền án: Bản án số 124/2014/HSST ngày
21/10/2014, Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 18 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng
cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án (chưa
được xóa án tích); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể
từ ngày 01/9/2017; có mặt.
Ngày 26 tháng 12 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ

NHẬN THẤY

Bị cáo Hoàng Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/6/2017, Tổ công tác Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã L bắt quả tang tại nhà Cao Văn S, sinh năm 1968, ở thôn 8, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng có một số đối tượng đang chơi đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền gồm: Hoàng Văn V; Nguyễn Thị B, sinh năm 1972, ở xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vũ Văn Đ, sinh năm 1986; Nguyễn Thị V, sinh năm 1962, đều ở xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Thu giữ trên chiếu bạc 1.880.000 đồng, 01 bộ bài tú-lơ-khơ 52 lá bài và 01 tấm thảm. Quá trình bắt giữ, tại nhà S còn có Hoàng Thị T, sinh năm 1969, trú tại: thôn 8 xã L, huyện T, Hải Phòng đang ngồi xem các đối tượng khác chơi bạc. Tổ công tác Công an huyện T đã đưa các đối tượng S, V, B, Đ, V cùng vật chứng về trụ sở Công an xã L lập biên bản V việc.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn V khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 21/6/2017, V cùng với B, Đ, V đến nhà S chơi. Tại đây, V rủ V, B, Đ đánh “phỏm” được thua bằng tiền, cả nhóm đồng ý. Đ lấy bộ bài tú-lơ-khơ và thảm ở nhà S trải để cả nhóm ngồi chơi bạc. Cách thức và tỷ lệ cá cược các đối tượng thống nhất như sau: người về nhất là người có số điểm ít nhất và được hưởng số tiền của 03 người chơi còn lại, lần lượt theo thứ tự về nhì phải trả 10.000đồng, về ba 20.000đồng, về tư (“bét”) 30.000đồng; người không có “phỏm” (hay còn gọi là “cháy”) phải trả cho người nhất 40.000 đồng. Người có bài “ù” thì mỗi người chơi còn lại phải trả 70.000 đồng/người. Khi chơi bạc V mang theo 400.000đồng, V thắng bạc, khi công an bắt giữ thu của V 1.270.000đồng (một triệu hai trăm bảy mươi ngàn đồng).

Tại cơ quan điều tra, các đối tượng Nguyễn Thị B, Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị V, Cao Văn S khai phù hợp với lời khai của V như nội dung nêu trên, cụ thể:

- S là chủ nhà, do nể nang mọi người nên đồng ý cho V, B, Đ, V chơi bạc tại nhà mình. S không thu tiền hồ, không được hưởng lợi ích vật chất khác.

- Khi tham gia đánh bạc B có 100.000đồng, B thua bạc. Khi Công an bắt giữ thu của B 50.000đồng (năm mươi ngàn đồng).

- Khi tham gia đánh bạc Đ có 300.000đồng, Đ thua bạc. Khi Công an bắt giữ thu của Đ 20.000đồng (hai mươi ngàn đồng).

- Khi tham gia đánh bạc V mang theo 1.080.000đồng, V thua bạc. Khi Công an bắt giữ thu của V 540.000đồng (năm trăm bốn mươi ngàn đồng).

Cả nhóm chơi bạc đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an bắt quả tang vật chứng như nội dung nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Thị T khai: Thiệp đến nhà S chơi, thấy V, B, Đ, V chơi bạc nên Thiệp ngồi xem và chứng kiến việc cơ quan Công an bắt các đối tượng trên.

Lời khai của Hoàng Văn V phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa V liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ V án đã đủ cơ sở xác định: Hoàng Văn V nhân thân có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa, đang trong thời gian thử thách lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền với Nguyễn Thị B, Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị V bị Công an bắt quả tang ngày 21/6/2017. Tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 1.880.000đồng (một triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).

Vật chứng của V án: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài, 01 tấm thảm và số tiền 1.880.000 đồng, chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện T.

Trong V án này, Nguyễn Thị B, Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị V có hành vi đánh bạc cùng Hoàng Văn V. Cao Văn S có hành vi chứa chấp các đối tượng V, B, Đ, V đánh bạc tại nơi ở của mình. Về nhân thân các đối tượng B, Đ, V, S đều chưa có tiền án về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc, số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc dưới mức định khung cơ bản của tội Đánh bạc nên Công an huyện T đã xử lý hành chính đối với các đối tượng trên. Đối với Hoàng Thị T có mặt tại đám bạc nhưng không tham gia đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Tại Cáo trạng số 139/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố Hoàng Văn V về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên và xin Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt nhẹ nhất.

Kiểm sát viên tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất V án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Đánh Bạc” và áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 60; Điều 33 Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Văn V từ 9 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù tại bản án số 124/2014/HSST ngày 21/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, lời khai của bị cáo, ý kiến kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo tại phiên toà cũng như tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ V án. Vì vậy, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 21/6/2017, Hoàng Văn V đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh “phỏm” được thua bằng tiền với Nguyễn Thị B, Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị V. Tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc là 1.880.000 (một triệu tám trăm tám mươi ngàn) đồng.

Về tình tiết định tội danh: Số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc dưới mức định khung cơ bản của tội Đánh bạc nhưng bị cáo đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích vì vậy hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Đánh bạc” vi phạm khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Mặt khác, tệ nạn cờ bạc còn là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt về tội đánh bạc nhưng bị cáo không rút ra bài học nghiêm khắc cho bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém. Vì vậy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù tại bản án số 124/2014/HSST ngày 21/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 248 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện T đang quản lý số vật chứng gồm:

- Số tiền 1.880.000 đồng (thể hiện tại biên lai thu tiền số: 0000726 ngày 14/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T)

- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, 01 tấm thảm kích thước 1 x1,5 m (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T)

Xét thấy: Số tiền 1.880.000(một triệu tám trăm tám mươi ngàn) đồng là tiền bị cáo và các đối tượng Nguyễn Thị B, Vũ Văn Đ, Nguyễn Thị V sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Vật chứng còn lại là 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, 01 tấm thảm kích thước 1 x1,5 m là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại các Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46; khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt: Hoàng Văn V 09 (chín) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù tại bản án số 124/2014/HSST ngày 21/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng thành hình phạt chung là 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.880.000 (một triệu tám trăm tám mươi ngàn) đồng (thể hiện tại biên lai thu tiền số: 0000726 ngày 14/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng)

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, 01 tấm thảm kích thước 1 x1,5 m (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng)

Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thỡ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. N¬i nhËn:

Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

- TAND TP H¶i Phßng;

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa

- VKSND huyÖn Thñy Nguyªn;

- Chi côc THADS huyÖn Thñy Nguyªn;

- CA huyÖn Thñy Nguyªn;

- BÞ c¸o;

- Së t ph¸p TP H¶i Phßng;

- PV27 CA H¶i Phßng;

- UBND x· (n¬i bÞ c¸o c tró);

- L u Toµ, hå s¬.

L ¬ng Ngäc Anh

c¸c héi thÈm nh©n d©n

thÈm ph¸n chñ to¹ phiªn toµ

L ¬ng Ngäc Anh Phạm Công Hạ

Phạm Văn sóng

1100

1111

Cỡ chữ