- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh H - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND KHU VỰC 2 ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2026/HS-ST Ngày: 05/8/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bành Quốc Trung;
2. Ông Nguyễn Đình Thung;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2026/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2026 đối với các bị cáo:
Huỳnh Thanh H, sinh ngày 28/12/2001, tại tỉnh Đồng Tháp. CCCD: 082201017074, cấp ngày 22 tháng 11 năm 2021.
Nơi cư trú: Ấp C, xã G, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Thanh D và bà Nguyễn Kim N; Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột: có 01 chị, sinh năm 1995; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/4/2026 đến ngày 02/5/2026. Hiện nay, bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị G, sinh năm 1969 (có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp C, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Lê Văn L, sinh năm 2009 (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp: Lê Thị Ú, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp X, xã G, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 28/4/2026, bị cáo Huỳnh Thanh H sử dụng xe mô tô hai bánh biển số 63AH-051.17 (xe của chị Huỳnh Thị G, sinh năm 1982 cư trú ấp C, xã G, tỉnh Đồng Tháp) chở Lê Văn L, đến khu vực quán K thuộc ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo H dừng xe lại, kêu L đứng đợi. Bị cáo H đi bộ vào đường hẻm gặp một người phụ nữ (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mua 01 (một) gói nylon trong suốt dạng túi zíp có viền màu đỏ một đầu bên trong có chứa 0,5482 gam ma túy loại Ketamine với giá 500.000 đồng, nhận ma túy bị cáo H cất giấu vào trong túi quần bên trái đang mặc, rồi trở ra điều khiển xe chở L đi. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang di chuyển trên đường V thuộc khu phố F, phường L, tỉnh Đồng Tháp thì bị lực lượng Công an phường L, tỉnh Đồng Tháp chặn dừng kiểm tra, phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội, tạm giữ số ma túy trên.
Bản Kết luận giám định số 762/KL-KTHS ngày 02/5/2026 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5482 gam, loại Ketamine.
Vật chứng của vụ án:
- 01 (một) túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 762 ghi ngày 02 tháng 5 năm 2026; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Quốc P (Giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Nguyễn Văn T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP. Bên trong có:
+ 01 (một) gói nylon trong suốt được vuốt kín, có viền màu đỏ một đầu, chứa 0,4876 gam, là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine;
+ 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 2010769 đã bị cắt một đầu trong quá trình mở niêm phong và 01 (một) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), bên trong đều không chứa gì.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng, hiệu iPhone Xs Max, IMEI số: 353099104277954, sim số 0373032949, mặt lưng bị vỡ, ốp lưng nhựa trong tối màu.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình là đúng theo nội dung bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đúng tội không oan, sai. Bị cáo chở L đi cùng, tuy nhiên L không biết việc bị cáo có cất giấu ma túy trong người, bị cáo không có nói cho L biết, bị cáo chỉ kêu L đứng chờ và một mình vào hẻm gặp người bán ma túy lấy ma túy, trả tiền xong trở ra, bị cáo tiếp tục chở L đi uống nước, bị cáo có dùng điện thoại và mở ứng dụng Z nhắn cho người phụ nữ để mua ma túy, sau đó bị cáo xóa tin nhắn, tên trên Zalo là tiếng nước ngoài, nên bị cáo không biết người phụ nữ này tên gì, không biết số điện thoại. Ngoài ra, không trình bày gì thêm khác.
Bản cáo trạng số 38/CT-VKSDTP-KV ngày 13/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp trong phần tranh luận giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản đã nêu trên, đồng thời đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H từ 3 năm 6 tháng đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 762 ghi ngày 02 tháng 5 năm 2026; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Quốc P (Giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Nguyễn Văn T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP. Bên trong có:
+ 01 (một) gói nylon trong suốt được vuốt kín, có viền màu đỏ một đầu, chứa 0,4876 gam, là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine;
+ 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 2010769 đã bị cắt một đầu trong quá trình mở niêm phong và 01 (một) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), bên trong đều không chứa gì.
Là chất cấm và các vật có liên quan đến quá trình giám định, hiện không còn giá trị sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng, hiệu iPhone Xs Max, IMEI số: 353099104277954, sim số 0373032949, mặt lưng bị vỡ, ốp lưng nhựa trong tối màu.
Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận dùng để liên lạc mua ma túy nên đề xuất Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo nói lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo Huỳnh Thanh H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 28/4/2026, tại đoạn đường V thuộc khu phố F, phường L, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo T1 gặp người phụ nữ, không rõ nhân thân, lai lịch để mua 0,5482 gam và giao số tiền 500.000 đồng, bị T1 cất giấu trong người nhằm mục đích đem về sử dụng cá nhân. Khi đang di chuyển trên đường thì bị lực lượng Công an phường L, tỉnh Đồng Tháp chặn dừng kiểm tra, phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội, tạm giữ số ma túy trên.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Thanh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy và các tệ nạn xã hội khác là nguyên nhân phát sinh tội phạm nên cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm để phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.
. Đối với người nữ giới đã bán ma tuý cho bị cáo Huỳnh Thanh H, quá trình điều tra bị cáo H khai không biết lai lịch người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra không thể điều tra xử lý được, để điều tra, xử lý sau là phù hợp.
Đối người nam thanh niên mà bị cáo chở đi cùng, không biết bị cáo để ma túy trong người nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô hai bánh biển số 63AH-051.17, quá trình điều tra xác nhận đây là xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Huỳnh Thị G nên đã trả lại cho chị G1 phù hợp.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ số ma túy được hoàn trả sau giám định là:
- 01 (một) túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 762 ghi ngày 02 tháng 5 năm 2026; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Quốc P (Giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Nguyễn Văn T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP. Bên trong có:
+ 01 (một) gói nylon trong suốt được vuốt kín, có viền màu đỏ một đầu, chứa 0,4876 gam, là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine;
+ 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 2010769 đã bị cắt một đầu trong quá trình mở niêm phong và 01 (một) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), bên trong đều không chứa gì.
Tịch thu sung quỹ đối với các vật chứng có giá trị sử dụng, là phượng tiện, công cụ phạm tội của vụ án:
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng, hiệu iPhone Xs Max, IMEI số: 353099104277954, sim số 0373032949, mặt lưng bị vỡ, ốp lưng nhựa trong tối màu.
. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thanh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/4/2026 đến ngày 02/5/2026).
3. Về vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với toàn bộ số ma túy được hoàn trả sau giám định là:
- 01 (một) túi được niêm phong kí hiệu vụ số: 762 ghi ngày 02 tháng 5 năm 2026; có các chữ kí in họ tên: Nguyễn Quốc P (Giám định viên), chữ kí ghi họ tên: Lê Nguyễn Văn T (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG K1 - CÔNG AN TỈNH ĐỒNG THÁP. Bên trong có:
+ 01 (một) gói nylon trong suốt được vuốt kín, có viền màu đỏ một đầu, chứa 0,4876 gam, là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine;
+ 01 (một) túi niêm phong mã số: PS3 2010769 đã bị cắt một đầu trong quá trình mở niêm phong và 01 (một) gói nylon trong suốt, có viền màu đỏ một đầu (loại túi zip), bên trong đều không chứa gì.
Tịch thu sung quỹ đối với các vật chứng có giá trị sử dụng, là phượng tiện, công cụ phạm tội của vụ án:
+ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu vàng, hiệu iPhone Xs Max, IMEI số: 353099104277954, sim số 0373032949, mặt lưng bị vỡ, ốp lưng nhựa trong tối màu.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, bị cáo Huỳnh Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 2 – Đồng Tháp; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Đồng Tháp; - Phân trại tạm giam Gò Công - Trại tạm giam số 2 công an tỉnh Đồng Tháp; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã, phường (nơi bị cáo cư trú); - Bị cáo; - NLQ; - Bộ phận THAHS; - Hồ sơ vụ án, Lưu AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Nhàn - Nguyễn Trương Ngươn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kiều Oanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Kiều Oanh |