- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng B - Sơn Thị Nguyệt N"
- Tòa quyết gì? [1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần L1.
- Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự các tình tiết nêu; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự các tình tiết nêu; Điều 1 Thông tư số 06/2023/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
| KHU VỰC 9 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 145/2026/DS - ST. Ngày: 16 - 4 - 2026. “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thạch Thanh Tâm. 2. Ông Nguyễn Thanh Rực.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha – Thư Ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2026/TLST - DS, ngày 10 tháng 02 năm 2026 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2026/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP L1 (Viết tắt là L2); địa chỉ: Tòa nhà L, số B T, phường H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP L1: Ông Ngô Minh T, sinh năm 1998; căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx – Giám đốc Quan hệ KHCN - Ngân hàng TMCP L1 – Chi nhánh S1 – Phòng G; địa chỉ liên hệ: Số A H, Phường S, thành phố Cần Thơ theo văn bản ủy quyền số 10/2026/QUQ-ST ngày 10/02/2026.
2. Bị đơn: Bà Sơn Thị Nguyệt N, sinh năm 1963; chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx và ông Thạch L, sinh năm 1964; chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện lập ngày 13/01/2026 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Ngô Minh T trình bày:
Ngày 30/7/2020, Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 được đổi tên từ Ngân hàng TMCP B (gọi tắt là L2) với bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L đã giao kết hợp đồng vay theo hợp đồng tín dụng số HDTD882202000305 cụ thể: Số tiền vay: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); Mục đích vay: Tiêu dùng (Mua sắm đồ gia dụng); Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 31/07/2020 đến hết ngày 31/07/2024); Lãi suất: 18%/năm; Tài sản bảo đảm: Không tài sản bảo đảm. Theo khế ước nhận nợ số: 882202000305/001 ký ngày 30/7/2020 thì số tiền nhận nợ: 40.000.000 đồng, thời hạn vay: 48 tháng, lãi suất cho vay: 18%/năm, phương thức điều chỉnh lãi suất: LSCV bằng (=)LScs cộng (+) 10.1%/năm (M), lãi suất nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Sau khi giao dịch, bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP L1 – Chi nhánh S1 – P đã nhiều lần đến nhà đôn đốc, gửi thông báo nợ quá hạn cũng như lập nhiều biên bản làm việc nhưng đến nay bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L vẫn chưa thanh toán hết nợ vay. Số tiền bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L còn phải thanh toán tạm tính đến ngày 16/4/2026 là 21.151.270 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 thay đổi yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 16/4/2026 là 21.151.270 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 11.049.071 đồng, nợ lãi là 10.102.199 đồng (bao gồm: Lãi trong hạn là 8.220.597 đồng và lãi quá hạn là 1.881.602 đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 17/4/2026 cho đến khi bà N và ông L hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP L1.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng khác nhưng không thể thực hiện được thủ tục cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp vì bà N1 và ông L đã bỏ địa phương đi và không thông báo cho Tòa án và nguyên đơn biết việc đã thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cư trú mới, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 3 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho họ theo đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đối với bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông S hoàn trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 11.049.071 đồng, tiền lãi tính đến ngày 16/4/2026 là 10.102.199 đồng và tiếp tục tính lãi theo hợp đồng đến khi bà N và ông L trả xong số nợ gốc cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 yêu cầu bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L trả số tiền nợ đã thực hiện giao dịch mà bà N và ông L ký kết tại hợp đồng tín dụng ngày 30/07/2020. Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giải quyết “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L cư trú tại ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L.
. Tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án: Nguyên đơn yêu cầu bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 16/4/2026 là 21.151.270 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 11.049.071 đồng, nợ lãi là 10.102.199 đồng (bao gồm: Lãi trong hạn là 8.220.597 đồng và lãi quá hạn là 1.881.602 đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 17/4/2026 cho đến khi bà N và ông L hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP L1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Để chứng minh cho việc bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L có vay tiền, Ngân hàng cung cấp cho Tòa án chứng cứ là hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đều có chữ ký của bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L ở mục chữ ký và họ tên của chủ tài khoản kiêm chủ thẻ chính và các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng đã ký; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà N và ông L biết nhưng bà N và ông L không có ý kiến phản đối gì. Căn cứ vào khoản 2, khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự các tình tiết nêu trên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong vụ án, nên Hội đồng xét xử kh ng định bà N và ông L đã có vay và nhận đủ của Ngân hàng số tiền là 40.000.000 đồng. Theo lịch sử thanh toán do Ngân hàng cung cấp thể hiện sau khi vay bà N và ông L chỉ trả được 28.950.929 đồng còn lại thì không thanh toán cho Ngân hàng. Do đó, việc bà N và ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm Điều 7 của Hợp đồng tín dụng ngày 30/7/2020 của Ngân hàng mà các bên đã ký kết, bà N và ông L là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Ngân hàng yêu cầu thu hồi nợ và buộc bị đơn bà N và ông L phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc còn lại là 11.049.071 đồng và tiền lãi là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Ngân hàng và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại hợp đồng tín dụng, giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 30/7/2020 giữa Ngân hàng với bà N và ông L đã giao kết mức lãi suất là lãi suất 18%/năm. Phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau, áp dụng nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại (cụ thể là: 18% x 150% = 27%) nên bà N và ông L phải có nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng theo giao kết là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng và Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà N và ông L hoàn trả tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng từ ngày 21/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 16/4/2026 với số tiền là 10.102.199 đồng (bao gồm: Lãi trong hạn là 8.220.597 đồng và lãi quá hạn là 1.881.602 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng từ ngày 17/4/2026 đến khi bị đơn bà N và ông L trả xong số nợ gốc là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn, tính lãi tiền vay tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng số tiền vốn gốc là 11.049.071 đồng, tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 16/4/2026 là 10.102.199 đồng, tổng số tiền 21.151.270 đồng và bà N, ông L còn phải trả lãi cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 17/4/2026 cho đến khi trả xong số nợ gốc.
. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn bà N và ông L phải chịu 1.057.564 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 70, khoản 1 Điều 72, khoản 2, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 177, Điều 179 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 06/2023/TT-NHNN, ngày 28/6/2023 của Ngân hàng N2 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần L1.
Buộc bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 số tiền vay gốc là 11.049.071 đồng (mười một triệu, không trăm bốn mươi chín nghìn, không trăm bảy mươi mốt đồng), tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 16/4/2026 là 10.102.199 đồng (mười triệu, một trăm lẻ hai nghìn, một trăm chín mươi chín đồng). Bao gồm: Lãi trong hạn là 8.220.597 đồng (tám triệu, hai trăm hai mươi nghìn, năm trăm chín mươi bảy đồng) và lãi quá hạn là 1.881.602 đồng (một triệu, tám trăm tám mươi mốt nghìn, sáu trăm lẻ hai đồng), tổng số tiền 21.151.270 đồng (hai mươi mốt triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, hai trăm bảy mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ thì lãi suất mà bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần L1.
[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần L1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 512.000 đồng (năm trăm mười hai nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002844, ngày 09/02/2026 của Chi cục Thi hành án dân sự khu vực 9 – Cần Thơ.
Bị đơn bà Sơn Thị Nguyệt N và ông Thạch L phải chịu 1.057.564 đồng (một triệu, không trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi bốn đồng).
[3]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
[4]. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Cần Thơ (P. Giám đốc, Kiểm tra, TT và THA); - VKSND khu vực 9 - Cần Thơ; - THADS Thành phố Cần Thơ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Ánh |