vanban.org

Bản án 145/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: Bị cáo Hồ Đức M 03 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 5 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Đức M Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145 /2024/HSST
Ngày: 18/12/2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Thành

2. Ông Nguyễn Văn Đích

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận S TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận S TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S, Tp . xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Hồ Đức M, Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01/03/2006 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 33 H, tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: sinh viên; trình độ học vấn: 12/12, Dân tộc Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không; Con ông Hồ Tiến A (sinh năm: 1970) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm: 1970). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo hiện đang được tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 36/LCCT-TA ngày 22/11/2024. Có mặt

- Người bị hại: Ông Mai Tấn P, sinh năm: 1981 (đã mất)

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Bà Ngô Thị T – sinh năm: 1987; Trú tại: Tổ A, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng (vợ của ông P). Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Tiến A- sinh năm: 1970; Trú tại Tổ B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 16/4/2024, Hồ Đức M (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS: 43S8-4522 chạy trên đường V theo hướng N - S với tốc độ khoảng 30km/h. Khi đến khu vực trụ điện chiếu sáng 229T8 trên đường V, phường M, quận S, TP.Đà Nẵng, M thấy phía trước có xe mô tô BKS: 43E1-453-81 do anh Mai Tấn P điều khiển chạy cùng chiều. Lúc này, M cho xe lách sang bên phải xe của anh P và đi song song được khoảng 20 đến 40 mét thì M điều khiển xe vượt lên xe của anh P. Trong quá trình đó, tay lái bên trái của M đã va vào tay lái bên phải xe của anh P làm anh P và xe ngã xuống đường. M cho xe của mình tấp vào lề đường, thấy anh P nằm im, M hoảng sợ nên điều khiển xe về nhà kể lại sự việc cho gia đình nghe, sau đó gia đình đưa M đến Công an quận S làm việc. Về phần anh P, sau khi bị ngã, anh P được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, đến ngày 20/4/2024 thì tử vong

* Vật chứng và tài sản tạm giữ:

- 01 xe mô tô BKS: 43E1-453.81 (bị hư hỏng).

- 01 xe mô tô BKS: 43S8-4522.

- 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 43S8-4522.

* Hiện trƣờng vụ án thể hiện:

Hiện trường đã bị xáo trộn một phần do 01 phương tiện liên quan đã rời khỏi hiện trường.

Đường V được thảm nhựa mặt đường, phẳng lòng đường rộng 10m15, ở giữa có vạch sơn liền màu vàng phân chia đường thành 02 chiều xe chạy. (1) Vết cày không liên tục do xe mô tô BKS: 43E1-453.81 tạo nên dài 02m50; (2) Xe mô tô BKS: 43E1-453.81. (3) Vết máu đại giác của nạn nhân có tiết diện 0m40x0m05. Chọn trụ điện CS229T8 và mép đường V bên phải theo chiều N - S làm mép đường chuẩn.

Từ tâm đầu trục bánh trước mô tô BKS: 43E1-453.81 đo đến trụ điện CS229T8 là 21m30 đây là điểm mốc của vụ tai nạn giao thông.

Xe mô tô BKS: 43E1-453.81 ngã về bên phải, nằm trên mặt đường đầu xe hướng về phía S và hơi chếch ra giữa đường.

Từ tâm đầu trục bánh trước xe (2) đo ngang vào mép đường chuẩn là 04m95.

Từ tâm đầu trục bánh sau xe (2) đo vào ngang mép đường chuẩn là 04m30.

Vết cày (1) không liên tục do xe mô tô BKS: 43E1-453.81 tạo nên trên mặt đường theo chiều N - S dài 02m50.

Từ tâm từ điểm khởi đầu vết cày (1) đo vào ngang mép đường chuẩn là 05m00. Điểm cuối vết cày (1) là đầu tay cầm lái bên phải của xe (2).

Từ tâm đầu trục bánh sau xe (2) đo về hướng S đến tâm viết máu (3) là 01m10. Đây là khoảng cách giữa xe (2) và vết máu (3).

Vết máu (3) của nạn nhân nằm rải rác trên mặt đường tạo thành vùng có tiết diện 0m40x0m05. Từ tâm vết máu (3) đo vào ngang mép đường chuẩn là 03m30.

*Về dấu vết trên các phƣơng tiện:

- Xe mô tô BKS: 43S8-4522

Kiểm tra bên ngoài không phát hiện dấu vết va chạm để lại.

Hệ thống đèn, còi, phanh hoạt động bình thường.

- Xe mô tô BKS: 43E1-453.81

Gương chiếu hậu bên phải bị gãy rời khỏi xe. Đoạn giữa cọng gương có vết xước kích thước 2,5x0,5cm.

Đoạn đầu tay phanh bên phải bị cong lệch từ sau ra trước. Đoạn đầu có vết xước kích thước 1,5x1,5cm.

Đoạn đầu tay cầm lái bên phải có vết xước kích thước 02x0,5cm.

Mặt ngoài manh chắn gió bên phải có nhiều vết xước nhỏ nằm rải rác trên diện 10x65cm.

Mặt bên gác để chân người ngồi lái bên phải có vết xước kích thước 45x13cm.

Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả khí có vết xước kích thước 27x8cm.

Đoạn giữa quai yên bên phải có vết xước kích thước 02x01cm.

Hệ thống đèn, phanh còn hoạt động bình thường.

Tại kết luận giám định số: 406 ngày 28/5/2024 của Phòng KTHS Công an TP.Đà Nẵng kết luận: Không có cơ sở để kết kết luân va chạm giữa xe mô tô BKS: 43S8-4522 với xe mô tô BKS: 43E1-453.81

Tại kết luận giám định tử thi số: 22 ngày 22/5/2024 của Trung tâm Pháp y – Sở Y.Đà Năng kết luận:

- Tiền sử bệnh lý: Nạn nhân có bệnh lý suy thận mạn giai đoạn 5 chạy thận nhân tạo; suy tim; bệnh lý tăng huyết áp.

- Kết quả khám nghiệm:

+ Chấn thương sọ não gây tụ máu nội sọ.

+ Chấn thương hàm mặt: gãy cung gò má phải, nứt xoang hàm phải, gãy cánh lớn xương bướm phải.

- Kết luận nguyên nhân tử vong: + Chẩn đoán: Đa chấn thương (chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt). + Bệnh kèm: Suy thận mạn giai đoạn 5 chạy thận nhân tạo, tăng huyết áp, suy tim.

+ Biến chứng: Hôn mê, suy hô hấp, trụy mạch, tử vong.

Ngày 21/6/2024, Trung tâm P1 – Sở Y.Đà Nẵng có công văn số: 60 giải thích kết luận giám định số 22 ngày 22/5/2024 nêu trên, với nội dung: Đối với chấn thương sọ não và hàm mặt như trên ở người khỏe mạnh không mắc các bệnh lý, điều trị và chăm sóc tích cực có nhiều khả năng không dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, trong trường hợp này bệnh nhân có nhiều bệnh nền phối hợp cũng là một trong những yếu tố tạo điều kiện nặng thêm dẫn đến tử vong

*Về dân sự: Bị cáo M và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm và xin miễn trách nhiệm hình sự cho Hồ Đức M

Tại Cáo trạng số 135/CT-VKS-ST ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà Tp. Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Hồ Đức M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, c khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát xin rút 1 tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS; đồng thời đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hồ Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hồ Đức M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo M và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm và xin miễn trách nhiệm hình sự cho Hồ Đức M nên không đề cập giải quyết

* Về phần xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô BKS: 43E1-453.81 (bị hư hỏng); 01 xe mô tô BKS: 43S8-4522 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 43S8-4522. Ngày 08/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận S đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho các chủ sở hữu là bà Ngô Thị T và ông Hồ Tiến A là phù hợp.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Đức M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại vì hành vi của mình đã gây ra, bị cáo rất hối hận. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội tiếp tục đi học và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận S TP Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hồ Đức M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 16/4/2024, tại khu vực trụ điện chiếu sáng 229T8 trên đường V, phường M, quận S, TP.Đà Nẵng, Hồ Đức M không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô BKS: 43S8-4522 chạy trên đường V theo hướng N - S với tốc độ khoảng 30km/h. Do không giữ khoảng cách an toàn, vượt xe không đảm bảo, dẫn đến va vào tay lái bên phải xe mô tô BKS: 43E1-453.81 do anh Mai Tấn P điều khiển đi cùng chiều gây ra vụ tai nạn giao thông làm anh P bị tử vong. Hành vi của Hồ Đức M đã vi phạm khoản 9 Điều 8; Điều 12; khoản 4 Điều 14, khoản 1 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Hội đồng xét xử thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản cáo trạng số 135/CT-VKS-ST ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà xin rút truy tố 1 tình tiết định khung “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn”quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS đối với M vì cho rằng tại thời điểm phạm tội bị cáo mới bước qua tuổi 18, tốc độ chạy xe của M chỉ 30km/h nên khi xảy ra va chạm với ông P, bị cáo có tâm lý lo sợ, không biết xử lý tình huống trên như nào và cũng không biết rằng hậu quả nghiêm trọng sẽ xảy ra là ông P sẽ tử vong. Bị cáo về nhà báo cho bố mẹ và cùng cha mẹ đến Công an quận S trình báo sự việc, ngay sau đó đến bệnh viện để thăm hỏi người bị hại điều này thể hiện bị cáo không hề có ý bỏ chạy và trốn tránh trách nhiệm hay cố ý không cứu giúp người bị nạn. Mặt khác, theo công văn số 60 ngày 21/6/2024 của Trung tâm P1 – Sở Y.Đà Nẵng giải thích kết luận giám định số 22 ngày 22/5/2024 với nội dung: Đối với chấn thương sọ não và hàm mặt như trên ở người khỏe mạnh không mắc các bệnh lý, điều trị và chăm sóc tích cực có nhiều khả năng không dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, trong trường hợp này bệnh nhân có nhiều bệnh nền phối hợp cũng là một trong những yếu tố tạo điều kiện nặng thêm dẫn đến tử vong. Hội đồng xét xử thấy việc rút tình tiết định khung “bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn” tại điểm c khoản 2 Điều 260 BLHS đối với M là phù hợp nên chấp nhận.

Xét tính chất tính vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hồ Đức M điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nhưng có giấy phép lái xe theo quy định, không tuân thủ các quy định khi tham gia giao thông. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, mà còn gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác. Do đó cần phải quyết định một mức án tương xứng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo mới bước qua tuổi 18, bị cáo đã thành thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 70.000.000 đồng, gia đình bị hại xác định bị hại Mai Tấn P hiện bị bệnh suy thận giai đoạn 5 và đã chạy thận nhân tạo 4 năm nay, trước khi tai nạn xảy ra ông P mới đi chạy thận nên tình trạng sức khỏe rất yếu và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để có cơ hội đi học, bị cáo M có ông nội Hồ H là Liệt sỹ được truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Hiện M đang là sinh viên năm thứ nhất Đại học D, Đà Nẵng. Do đó, có cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo M được hưởng án treo, không cần thiết xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục học hành, cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ sức răn đe.

Về trách nhiệm dân sự: Hồ Đức M và gia đình đã bồi thường số tiền 70.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô BKS: 43E1-453.81 (bị hư hỏng); 01 xe mô tô BKS: 43S8-4522 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 43S8-4522. Ngày 08/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận S đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho các chủ sở hữu là bà Ngô Thị T và ông Hồ Tiến A là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Đối với ông Hồ Tiến A là cha ruột của Hồ Đức M, là chủ sở hữu của xe mô tô BKS: 43S8-4522. Khi bị cáo lấy xe đi, ông M không biết và không giao xe cho M do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận S không đề cập truy cứu trách nhiệm đối với ông A, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Các nhận định, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cơ bản phù hợp với ý kiến của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo Hồ Đức M phải chịu.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Căn cứ vào điểm a khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo;

Căn cứ Nghị quyết 01/2022/NQ_HĐTP ngày 15/4/2022 về việc sửa đổi bổ sung Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo;

Xử phạt: Bị cáo Hồ Đức M 03 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách 5 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Đức M phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ