vanban.org

Bản án 145/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 20/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bùi Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt: Bùi Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? 47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2023/HSST
Ngày: 20 / 12 / 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nghiêm Hoài Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh và bà Ngô Thị Như Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà

Trần Thị Ngọc Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình,

xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2023/HSST ngày 10 tháng 11

năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2023/QĐXXST-HS ngày 06

tháng 12 năm 2023 đối với:

Bị cáo Bùi Văn T; giới tính: Nam; sinh năm 1992 tại Hòa Bình; nơi đăng ký

HKTT: Xóm C, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; chỗ ở: Tổ dân phố 17, phường H,

thành phố H, tỉnh Hòa Bình; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân

tộc: Mường; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Ch (đã chết) và

bà Bùi Thị L; Có vợ là Bùi Thị Kim O (đã ly hôn) và 01 con (5 tuổi).

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 19/9/2023 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh

Hòa Bình, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1969; nơi cư

trú: Tổ dân phố 17, phường H, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 19/9/2023, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát

28N1-531.13 từ phòng trọ tại phường Hữu Nghị đến khu vực quán nước gần UBND

thành phố Hòa Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T mua được của một người đàn ông tự giới thiệu tên là Đ 01 gói ma túy với số tiền 200.000 đồng. Có được ma túy, T cầm trong lòng bàn tay trái và đi về. Khi T đi đến khu vực tổ 1, phường Thịnh Lang, thành phố Hòa Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Hòa Bình phát hiện, bắt quả tang hành vi tàng trữ ma túy của T và thu giữ số ma túy T vừa mua.

Bản Kết luận giám định số 398/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phòng Kỹ thuật

Hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: "chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong phong bì niêm phong ... gửi giám định có khối lượng 0,2g, là ma túy, loại heroine methamphetamine".

Cáo trạng số 144/CT-VKS-TP ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Hoà Bình truy tố Bùi Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng

xét xử áp dụng điểm i khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật TTHS, xử phạt Bùi Văn T từ 13 đến 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa hay tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:

Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai

của Bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có đủ cơ sở xác định: khoảng 13 giờ ngày 19/9/2023, Bùi Văn T có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,2g ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền

quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc

mua bán, tàng trữ chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp

luật, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

theo điểm i khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự

được áp dụng khi quyết định hình phạt.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và nhân thân

của bị cáo, cần có mức hình phạt tù thỏa đáng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội

một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội

phạm chung.

Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe mô tô thu của bị cáo là tài sản của người khác, không liên quan đến tội

phạm, cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu nên Tòa không đề cập giải quyết.

Đối với người đàn ông tên Đ bị cáo khai bán ma túy, cơ quan điều tra đã xác

minh nhưng chưa làm rõ được nên Tòa không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; khoản 1 điều

47 của Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Tuyên bố: Bùi Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt: Bùi Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

19/9/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam mẫu ma túy, loại heroine và methamphetamine

cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.

(vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa

Bình, có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng số 27/BB ngày 29/11/2023).

4. Về án phí: Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ