- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Tam H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 145/2023/HSST Ngày: 10- 7- 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Quỳnh
2. Bà Lò Thị Hiêng
- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dƣơng Tam H; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 07/9/1979, tại tỉnh B;
Nơi cư trú trước khi bị bắt: Số nhà 76, tổ dân phố 01, phường T, thành phố Đ, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe ô tô; Trình độ văn hóa: 12/12 phổ thông; Con ông: Dương Công T; Con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Đoàn Thị H (Đã ly hôn), con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/01/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử và xử phạt 04 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"; Ngày 14/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử và xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Ngày 30/10/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử và xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Các bản án này bị cáo đã chấp hành xong, nên đương nhiên được xóa án tích. Ngày 08/12/2006 bị công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định xử phạt số 207 về hành vi "Trộm cắp tài sản", với mức hình phạt 200.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong, nên tính đến ngày phạm tội lần này, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo tạm giữ từ ngày 23/02/2023, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, tổ công tác Công an thành phố Đ, tỉnh B đang làm nhiệm vụ tại khu vực chợ C4, thuộc tổ dân phố 7, phường Nam Thanh, thành phố Đ phát hiện bị cáo Dương Tam H đang đạp xe về hướng tổ công tác, có biểu hiện phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, H tự giác giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh giấy bạc màu vàng cho cơ quan công an và khai bên trong gói giấy bạc màu vàng là Heroine, bị cáo mua của một người đàn ông không quen biết ở giữa bản P, xã T, huyện B hết 200.000 đồng, trên đường về thì bị cơ quan công an phát hiện, bắt giữ. Mục đích bị cáo cất giấu toàn bộ số ma túy trên là để sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 16 giờ 45 phút ngày 23/02/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất bột thể rắn màu trắng đục thu giữ của Dương Tam H gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,21 gam.
Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKS-TPĐBP ngày 26/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Dương Tam H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38/BLHS xử phạt bị cáo từ 17 tháng đến 20 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, tịch thu sung ngân sách 01 xe đạp địa hình nhãn hiệu PHILLIPS. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 12 giờ 50 phút, ngày 23/02/2023, tại khu vực chợ C4, thuộc tổ dân phố 7, phường Nam Thanh, thành phố Đ, Dương Tam H có hành vi cất giấu trái phép 0,21 gam Heroine trên người, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 23/02/2023, kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 02/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B.
Do đó, có đủ cơ sở khẳng định, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo, với mục đích để sử dụng là phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52/BLHS. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 27/01/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử và xử phạt 04 tháng tú cho hưởng án treo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", ngày 14/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử và xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 30/10/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử và xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 30/4/2018, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ các bản án, nên đương nhiên được xóa án tích . Ngày 08/12/2006 bị công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định xử phạt số 207 về hành vi "Trộm cắp tài sản", với mức hình phạt 200.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong, nên tính đến ngày phạm tội lần này, được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
. Từ những phân tích trên khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B truy tố bị cáo Dương Tam H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Bị cáo là người nghiện ma túy, là người đã phải chấp hành hình phạt tù của nhiều bản án, về các tội phạm khác nhau, nH bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nH vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,21 gam Heroine thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của một người đàn ông ở giữa bản P, xã T, huyện B, nhưng không biết họ tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Vật chứng: 0,11 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy, 01 xe đạp địa hình nhãn hiệu PHILLIPS, màu sơn Đen - Vàng - Đỏ, xe cũ đã qua sử dụng, là phương tiện của bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Dương Tam H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Dương Tam H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (23/02/2023).
2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe đạp địa hình nhãn hiệu PHILLIPS, màu sơn Đen - Vàng - Đỏ, xe không có chắn bùn phía sau, xe cũ đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2023 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/7/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSNDTPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra Công an TPĐBP; - Cơ quan THAHS TP ĐBP; - Nhà tạm giữ CA TPĐBP; - Trại tạm giam; - Sở Tư pháp tỉnh B; - Chi cụcTHADS TPĐBP; - TAND tØnh §B; - HS Thi hµnh ¸n HS; - L u hå s¬ vô ¸n; - L u VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thúy Thành |