vanban.org

Bản án 145/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện K 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2023.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. * Tịch thu và tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện K 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 145/2023/HS-ST
Ngày: 30-6-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Nam Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hứa Thị Phương Hồng.

2. Bà Trần Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thiện K, sinh ngày 25/3/1970 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Chung cư A C, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Ngô Thiện T và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không.

Nhân thân:

Ngày 20/7/2001, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 2159/QĐ- UB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian là 06 tháng, chấp hành xong vào ngày 02/02/2002.

Ngày 17/05/2002, bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 6562/QĐ- UB áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian là 24 tháng, chấp hành xong ngày 07/7/2007.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 00 phút, ngày 13/03/2023, Tổ tuần tra 363 Công an huyện B tổ chức tuần tra trên tuyến đường thuộc xã B, huyện B. Khi đến trước địa chỉ C đường P, ấp D, xã B, huyện B phát hiện Mã Văn T1 điều khiển xe mô tô biển số 52Z5-8528 chở Nguyễn Thiện K (ngồi phía sau xe) có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra tổ tuần tra phát hiện, trong túi quần phía trước bên phải của K có 08 (tám) đoạn ống nhựa được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn không màu được K khai nhận là ma túy (loại heroin) và 01 (một) gói nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn không màu, K khai nhận là ma túy đá. Tiếp tục kiểm tra Mã Văn T1 là người điều khiển xe chở K, tổ tuần tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của T1 có 03 (ba) ống kim tiêm, T1 khai nhận là dùng để sử dụng ma túy (loại Heroin). Lực lượng Công an tiến hành thu giữ tang, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thiện K đồng thời mời Mã Văn T1 về trụ sở Công an xã B làm việc. Vụ việc trên được Công an xã B lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để điều tra xử lý.

Tại bản Kết luận giám định số 2391/KL-KTHS ngày 22/03/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:

Gói 01:

+ Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng ký hiệu m1, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1820g, loại Heroine.

+ Bột màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa màu xanh ký hiệu m2, là ma túy ở có khối lượng 0,2403g, loại Heroine.

+ Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa màu cam ký hiệu m3, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1648g, loại Heroine.

+ Bột màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa màu đỏ ký hiệu m4, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0932g, loại Heroine.

Gói 02: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được ký hiệu mẫu m5 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1528g, loại Methaphetamine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Nguyễn Thiện K khai nhận: Bản thân là người nghiện 02 loại ma túy (heroin và ma túy đá) từ năm 1997 đến nay. Do hết ma túy để sử dụng vào khoảng 20 giờ ngày 13/3/2023, K đi đến đường B thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) để mua 08 (tám) gói Heroin được đựng trong các đoạn ống nhựa với giá 800.000 đồng và người đàn ông bán H tặng thêm cho K 01 gói ma túy đá đựng trong gói nylon được hàn kín. Sau khi mua được ma túy K cất giấu ma túy trong túi quần phía trước bên phải của K rồi đi về. Sau đó, K gọi điện thoại cho Mã Văn T1 rủ T1 đến phòng trọ của K để dụng ma túy chung, T1 đồng ý. Kiều điều khiển xe máy mang biển kiểm soát 52Z2-8528 đi đến phòng trọ của T1 tại Quận D để rước T1. Sau đó, K đưa xe cho T1 để T1 chở K. Trên đường đi về phòng trọ của K ở xã B, huyện B thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.

Đối với Mã Văn T1 khai nhận: Đây là lần đầu tiên T1 được K rủ về phòng của K để sử dụng ma túy nhưng không đi mua ma túy cùng K và không biết K cất giấu ma túy trong người, đến khi lực lượng Công an kiểm tra thì T1 mới biết trong người Kiều có ma túy. Lời khai của T1 phù hợp với lời khai của K, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ:

- 08 (tám) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,6803g là ma túy ở thể rắn, loại Heroin.

- 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1528g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

- 01 xe mô tô hiệu WAND (Trung Quốc) biển số 52Z5-8528, có số khung: VDCDCG034UM010768; số máy: VUMDCYG150FMG4PQQ0768.

- 01 điện thoại di động hiệu Realme, Emel 1:863373051587357 bên trong có sim 6468.

- 03 (ba) ống kim tiêm đã qua sử dụng.

- 01 đĩa DVD ghi âm, ghi hình đối với bị cáo Nguyễn Thiện K.

Tại bản cáo trạng số: 148/CT-VKSBC ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thiện K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện K từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, miễn hình phạt tiền cho bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thiện K khai nhận hành vi như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thiện K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh lập lúc 22 giờ 30 phút ngày 13/3/2023 cùng các chứng cứ, tài liệu, tang vật có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa. Số lượng ma túy bị cáo K tàng trữ thông qua giám định có khối lượng 0,6803 g loại Heroin và 0,1528 g loại Methamphetamine, như vậy hành vi của K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố bị cáo như cáo trạng nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy mà nhà nước ta đã nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý. Những người có hành vi vi phạm, tuỳ tính chất, mức độ đều bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi trưởng thành, nhận thức được ma tuý là chất độc hại, một loại hàng đặc biệt nhà nước độc quyền quản lý, bất kỳ ai vi phạm đến ma tuý, tuỳ tính chất mức độ đều bị xử lý bằng pháp luật hình sự. Song vì muốn có ma túy thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã không tuân thủ pháp luật tàng trữ trái phép chất ma túy; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai cáo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 08 (tám) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,6803g là ma túy ở thể rắn, loại Heroin và 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu có khối lượng 0,1528g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm:

Gói 1:

+ Bột màu trắng (m1) có tổng khối lượng 0,1536g.

+ Bột màu trắng (m2) có tổng khối lượng 0,2017g.

+ Bột màu trắng (m3) có tổng khối lượng 0,1286g.

+ Bột màu trắng (m4) có tổng khối lượng 0,0616g.

Gói 2: Tinh thể không màu (m5) có tổng khối lượng 0,1256g.

Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 03 (ba) ống kim tiêm đã qua sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 của Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 xe mô tô hiệu WAND (Trung Quốc) biển số 52Z5-8528, có số khung: VDCDCG034UM010768; số máy: VUMDCYG150FMG4PQQ0768. Qua xác minh xe mô tô trên do chị Nguyễn Cao Như T2 (ngụ tại số F N, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Chị T2 cho biết đã bán lại xe cho một người (không rõ lai lịch) vào năm 2015 và không làm thủ tục sang tên. Quá trình điều tra K khai nhận đã mua xe trên của một người (không rõ lai lịch). Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã có công văn đề nghị đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa xác định được ai là chủ sở hữu. Xét đây là phương tiện bị cáo K dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này sẽ được giải quyết trong một vụ án dân sự khác.

- 01 điện thoại di động hiệu Realme Emel 1:863373051587357 thu giữ của K, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên giao trả lại cho bị cáo.

- Tiếp tục lưu trong hồ sơ 01 đĩa DVD chứa file ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo K.

Đối với Mã Văn T1, tuy có hành vi chở Nguyễn Thiện K nhưng không thỏa thuận trước, không biết K cất giấu ma túy trong người nên không có đủ căn cứ xử lý với vai trò đồng phạm.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo K, do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và chấp nhận đề nghị của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thiện K 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/3/2023.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

* Tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (một) bìa thư dán kín, bên ngoài có các chữ ký, ghi tên Nguyễn Thiện K, Nguyễn Thanh H1 (Điều tra viên), Trung tá Nguyễn Thanh H2 (Phó Trưởng Công an xã) và hình dấu Công an xã B, huyện B ghi số vụ 534/23 bên trong có chứa ma túy ở thể rắn loại heroin sau giám định, gồm:

+ Bột màu trắng (m1) có tổng khối lượng 0,1536g.

+ Bột màu trắng (m2) có tổng khối lượng 0,2017g.

+ Bột màu trắng (m3) có tổng khối lượng 0,1286g.

+ Bột màu trắng (m4) có tổng khối lượng 0,0616g.

- 01 (một) bìa thư dán kín, bên ngoài có các chữ ký, ghi tên Nguyễn Thiện K, Nguyễn Thanh H1 (Điều tra viên), Trung tá Nguyễn Thanh H2 (Phó Trưởng Công an xã) và hình dấu Công an xã B, huyện B ghi số vụ 534/23 bên trong có chứa ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine, gồm: 01 gói nylon (m5) = 0,1256g.

- 03 (ba) ống kim tiêm đã qua sử dụng.

* Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu WAND (Trung Quốc) biển số 52Z5-8528, có số khung: VDCDCG034UM010768; số máy: VUMDCYG150FMG4PQQ0768 (trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này sẽ được quyền khởi kiện trong một vụ án dân sự khác).

* Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Realme, Emel 1: 863373051587357 bên trong có sim số trên sim có số 6468.

(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30/5/2023 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)

* Tiếp tục lưu trong hồ sơ 01 đĩa DVD chứa file ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo K.

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ